Ấp Tân Hòa, Xã Tân Tập, Huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An, Việt Nam

Posts by Khôi Vũ

Bộ Giao thông Vận tải thị sát tại Cảng Quốc tế Long An

Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải (GTVT) – Nguyễn Văn Công, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam – Nguyễn Xuân Sang, đại diện các Vụ, Cục, Cảng vụ Hàng hải,… thuộc Bộ GTVT vừa có chuyến thị sát và làm việc tại Cảng Quốc tế Long An, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc về công tác nhà nước trong lĩnh vực hàng hải, quy hoạch cảng biển. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An – Phạm Văn Cảnh cùng đi với đoàn.

Sau khi thị sát và làm việc tại cụm cảng khu vực Hiệp Phước, TP.HCM vào buổi sáng, đoàn di chuyển đến Cảng Quốc tế Long An bằng đường thủy, qua cửa sông Soài Rạp và Vàm Cỏ, đánh giá công tác nạo vét, thực tế triển khai quy hoạch tuyến đường sông Soài Rạp.

Chia sẻ với Đồng Tâm Group (đơn vị đầu tư xây dựng Cảng Quốc tế Long An), Thứ trưởng – Nguyễn Văn Công đánh giá rất cao về tiến độ hoàn thành nhanh chóng, các hạng mục được xây dựng hoàn chỉnh, hiệu quả hoạt động cao và tầm nhìn trong tương lai rất rõ ràng của Cảng Quốc tế Long An.

Nằm trên luồng sông Soài Rạp, mé phải thượng nguồn sông Đồng Nai, cách cửa biển 19km, cách phao số 0 khoảng 40km, Cảng Quốc tế Long An là 1 dự án nằm trong quần thể gồm 4 khu dự án với tổng quy mô 1.935ha, bao gồm: Cảng Quốc tế Long An, Khu công nghiệp Đông Nam Á Long An, Khu dịch vụ Công nghiệp Đông Nam Á Long An, Khu đô thị Đông Nam Á Long An.

Trong đó, Cảng Long An là 147ha, được đầu tư xây dựng thành 3 giai đoạn với tổng số vốn gần 10.000 tỉ đồng, bao gồm: 7 cầu cảng có khả năng tiếp nhận tàu tải trọng lên đến 70.000 DWT với tổng chiều dài từ đầu Cầu cảng số 1 đến cuối Cầu cảng số 7 là 1.670m; 7 bến sà lan; hệ thống nhà kho, kho ngoại quan; hệ thống bãi container và các công trình phụ trợ khác. Tất cả hạng mục cũng như hệ thống các trung tâm điều hành đang được khẩn trương triển khai xây dựng đúng theo tiến độ hoàn thành vào năm 2023. Riêng diện tích kho phục vụ lưu trữ tại cảng là hơn 400.000m2, phục vụ nhu cầu vận chuyển, lưu kho hàng nông thủy sản, phân bón, sắt thép,… của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và là cửa ngõ để các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong khu vực Đông Nam Bộ tập kết đóng hàng và phân phối bằng đường bộ, đường biển hoặc thủy nội địa. Tỉnh Long An cũng đầu tư hoàn thiện trục ĐT 830 từ cảng kết nối QL50 và QL1 để thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa đến các địa phương lân cận.

Cảng quốc tế Long An còn mở rộng các khu liên hợp bao gồm đô thị, dịch vụ cảng biển, nhà hàng, lưu trú,… Đến nay, xây dựng hoàn thành 3 cầu cảng với chiều dài 630m. Năm 2020, Cảng Quốc tế Long An tiếp tục xây dựng cầu cảng số 4, 5 và 6 đón được tàu có trọng tải lên đến 70.000 DWT sớm đưa vào khai thác vào năm 2021. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng đang xúc tiến hoàn tất các thủ tục pháp lý nhằm mở rộng quy mô, để các cầu cảng số 8 và 9 có công suất thiết kế xây dựng đón được tàu có trọng tải lên đến 100.000 DWT; nâng tổng chiều dài liên tục của hệ thống cầu cảng lên đến 2.368m, trở thành một trong những cầu cảng quốc tế có chiều dài bờ cảng lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Cho đến cuối năm 2019, trong quá trình vừa xây dựng vừa khai thác, Cảng Quốc tế Long An đón gần 1.000 chuyến tàu trong và ngoài nước ra vào cảng, đạt gần 1 triệu tấn hàng hóa xuất nhập thông qua cảng, đáng chú ý nhất là cảng tiếp nhận và bốc dỡ hàng hóa thành công nhiều tàu tải trọng 50.000 DWT.

Đoàn công tác ghi nhận sự chuyên nghiệp, bài bản của Đồng Tâm Group khi nỗ lực xây dựng Cảng Quốc tế Long An với đầy đủ hạng mục hỗ trợ như dịch vụ khai báo hải quan, thú y, nhà làm việc và nhà nghỉ cho bộ đội Biên phòng, cảng vụ,… Nơi làm việc và đời sống của cán bộ công nhân viên cảng rất chất lượng. Ngoài ra, cảng còn chú trọng đến cả sự tiện nghi, thoải mái cho công nhân, lái xe khắp mọi miền đất nước ra vào tại cảng qua các dịch vụ rất khang trang, sạch sẽ như phòng tắm, nhà vệ sinh, căn-tin, Cafe Ông Bầu,…

Có thể nói, sự phát triển của Cảng Quốc tế Long An chính là tiền đề thúc đẩy phát triển các khu – cụm công nghiệp, góp phần phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Đồng thời, giảm ách tắc giao thông đường bộ, giảm chi phí vận tải, logistics cho các doanh nghiệp đầu tư, được các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung đánh giá rất cao. Ngoài ra, cảng cũng là nút giao thương cực kỳ quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Trong quá trình trao đổi sơ bộ tại cuộc làm việc, Chủ tịch HĐQT Đồng Tâm Group – Võ Quốc Thắng xin ý kiến mở thêm 2 cầu cảng có công suất thiết kế xây dựng đón được tàu có trọng tải lên đến 100.000 DWT, 1 cầu cảng chuyên dụng để phục vụ cho các tàu hoạt động trong lĩnh vực khai thác – chuyên chở khí và dầu, xây dựng 1 trung tâm để đón tàu du lịch cỡ lớn và khách du lịch trong thời gian tới,…

Thứ trưởng – Nguyễn Văn Công chỉ đạo các bộ phận chuyên môn trực thuộc Bộ GTVT xem xét và rà soát tính hợp lý trong các kiến nghị của doanh nghiệp để có đề xuất những giải pháp cụ thể, thiết thực, không làm lãng phí vị trí đắc địa của sông Soài Rạp, phù hợp với chiến lược phát triển chung của cả vùng.

Đại diện lãnh đạo địa phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Long An – Phạm Văn Cảnh cũng cho biết thêm: Tầm nhìn phát triển của tỉnh là bên cạnh nông nghiệp còn phải phát triển công nghiệp, dịch vụ. Cảng biển chính là một hướng phát triển chiến lược dựa trên những lợi thế sẵn có, được tận dụng và phát huy hiệu quả. Tỉnh sẽ luôn ủng hộ, tạo điều kiện tối đa để các doanh nghiệp, nhà đầu tư cùng chung tay xây dựng các dự án, công trình hướng đến sự phát triển chung của tỉnh, góp phần giúp Long An trở thành một vùng kinh tế năng động của phía Nam, nâng cao đời sống của người dân trong khu vực./.

Báo Long An

Chi tiết

Gần 50.000 tấn thép xuất khẩu qua Cảng quốc tế Long An

(HQ Online) – Gần 50.000 tấn tôn mạ và ống thép của Công ty Cổ phần Thép TVP (Bến Lức, tỉnh Long An) đã được xuất khẩu đi Thái Lan qua cảng Quốc tế Long An.

Chiều  28/6/2020, sau thời gian trầm lắng vì đại dịch Covid 19, tàu quốc tế An Shun 5 đã cập cảng Quốc tế Long An để bắt đầu xếp dỡ, chuẩn bị cho chuyến hàng xuất khẩu gần 50.000 tấn tôn mạ và ống thép của Công ty Cổ phần Thép TVP khởi hành đến Thái Lan.

Với tầm nhìn trở thành công ty thép đứng Top 3 trong nước, vươn lên Top 10 khu vực Đông Nam Á trong lĩnh vực sản xuất – cung cấp các sản phẩm tôn mạ và ống thép các loại, những năm vừa qua Công ty Cổ phần Thép TVP đã liên tục đầu tư máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại nhất trong ngành thép hiện nay với quy mô đầu tư trên 2.500 tỷ đáp ứng được sản xuất hàng xuất khẩu.

Lựa chọn Cảng Quốc tế Long An đối với TVP là sự lựa chọn vừa thuận tiện (gần nhà máy) vừa mang lại lợi ích kinh tế to lớn. Theo bà Ninh Thị Bích Thùy, Tổng Giám Đốc TVP: “Do không phải vận chuyển nhiều lượt đến những cảng xa hơn, doanh nghiệp chúng tôi tiết giảm được gần 30% chi phí logistics vùng nội địa, giảm ách tắc giao thông.”

Nằm trên luồng sông Soài Rạp, cảng Quốc tế Long An là dự án nằm trong quần thể gồm 4 khu dự án với tổng quy mô 1.935 ha. Trong đó Cảng quốc tế Long An là 147 ha, được đầu tư xây dựng thành 3 giai đoạn với tổng số vốn gần 10.000 tỷ đồng. Tất cả hạng mục cũng như hệ thống các trung tâm điều hành đang được khẩn trương triển khai xây dựng đúng theo tiến độ hoàn thành vào năm 2023.

Để tăng cường khả năng đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, đối tác, cảng Quốc tế Long An còn mở rộng các khu liên hợp bao gồm đô thị, dịch vụ cảng biển, nhà hàng, lưu trú… Đến nay, đã xây dựng hoàn thành 3 cầu cảng với chiều dài 630m.

Năm 2020, cảng Quốc tế Long An tiếp tục xây dựng cầu cảng thứ 4, thứ 5 và số 6 đón được tàu có trọng tải lên đến 70.000 DWT sớm đưa vào khai thác vào năm 2021. Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng đang xúc tiến hoàn tất các thủ tục pháp lý nhằm mở rộng quy mô, để các cầu cảng số 8 và số 9 có công suất thiết kế xây dựng đón được tàu có trọng tải lên đến 100.000 DWT, nâng tổng chiều dài liên tục của hệ thống cầu cảng lên đến 2.368m, trở thành một trong những cầu cảng Quốc tế có chiều dài bờ cảng lớn nhất Việt Nam hiện nay.

Trong quá trình vừa xây dựng, vừa khai thác cảng Quốc tế Long An đã đón gần 1.000 chuyến tàu trong và ngoài nước ra vào Cảng, đạt gần 1 triệu tấn hàng hóa XNK thông qua cảng vào cuối năm 2019. Đáng chú ý nhất là cảng đã tiếp nhận và bốc dỡ hàng hóa thành công nhiều tàu tải trọng trên 50.000 DWT.

Có thể nói, sự phát triển của cảng Quốc tế Long An chính là tiền đề thúc đẩy phát triển các khu, cụm công nghiệp, góp phần phát triển kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời giảm ách tắc giao thông đường bộ, giảm chi phí vận tải, logistics cho các doanh nghiệp đầu tư, được các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Long An nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung đánh giá rất cao.

Theo Haiquanonline

Chi tiết

Hoạt động vận tải trong nước tháng 6/2020 tiếp tục xu hướng khôi phục trở lại

Hoạt động vận tải trong nước tháng 6/2020 tiếp tục xu hướng khôi phục trở lại với mức tăng 13,4% lượng hành khách vận chuyển và tăng 7,3% lượng hàng hóa vận chuyển so với tháng trước. Tuy nhiên, vận tải ngoài nước của các hãng hàng không vẫn gặp nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ở các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Tính chung 6 tháng đầu năm, vận chuyển hành khách giảm 27,3% và vận chuyển hàng hóa giảm 8,1% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách tháng Sáu ước tính đạt 297,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 13,4% so với tháng trước và luân chuyển 12,7 tỷ lượt khách.km, tăng 9,3%; quý II năm nay ước tính đạt 681,1 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 44,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 29,1 tỷ lượt khách.km, giảm 51,9%. Tính chung 6 tháng, vận tải hành khách đạt 1.812,6 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 27,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,7%) và luân chuyển 82,4 tỷ lượt khách.km, giảm 32,7% (cùng kỳ năm trước tăng 9,5%), trong đó vận tải trong nước đạt 1.809,9 triệu lượt khách, giảm 27,2% và 73 tỷ lượt khách.km, giảm 24,6%; vận tải ngoài nước đạt 2,7 triệu lượt khách, giảm 68,6% và 9,4 tỷ lượt khách.km, giảm 63,2%. Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường đều giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 từ những tháng trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ 6 tháng đạt 1.701,9 triệu lượt khách, giảm 27,8% so với cùng kỳ năm trước và 61,2 tỷ lượt khách.km, giảm 24,4%; đường thủy nội địa đạt 91,3 triệu lượt khách, giảm 10,3% và gần 2 tỷ lượt khách.km, giảm 12,7%; hàng không đạt 14,6 triệu lượt khách, giảm 46,1% và 18,2 tỷ lượt khách.km, giảm 51,2%; đường biển đạt 2,8 triệu lượt khách, giảm 27,4% và 176,9 triệu lượt khách.km, giảm 22,6%; đường sắt đạt 2 triệu lượt khách, giảm 53,7% và 897,1 triệu lượt khách.km, giảm 48,3%.

Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước tính đạt 139,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 7,3% so với tháng trước và luân chuyển 28,5 tỷ tấn.km, tăng 5,7%; quý II năm nay ước tính đạt 379,1 triệu tấn hàng hóa, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 77,3 tỷ tấn.km, giảm 12,1%. Tính chung 6 tháng, vận tải hàng hóa đạt 807,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 8,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%) và luân chuyển 159,8 tỷ tấn.km, giảm 7,1% (cùng kỳ năm trước tăng 7,1%), trong đó vận tải trong nước đạt 790,1 triệu tấn, giảm 8,2% và 82,3 tỷ tấn.km, giảm 12%; vận tải ngoài nước đạt 17,8 triệu tấn, giảm 5,3% và 77,5 tỷ tấn.km, giảm 1,1%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 6 tháng đạt 622,8 triệu tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước và 43,8 tỷ tấn.km, giảm 10,5%; đường thủy nội địa đạt 143,9 triệu tấn, giảm 5,9% và 31,4 tỷ tấn.km, giảm 5%; đường biển đạt 38,6 triệu tấn, giảm 4,5% và 81,1 tỷ tấn.km, giảm 3,9%; đường sắt đạt 2,5 triệu tấn, giảm 3% và 1,8 tỷ tấn.km, giảm 2,9%; đường hàng không đạt 132,3 nghìn tấn, giảm 36,3% và 1,7 tỷ tấn.km, giảm 53,5%.

VITIC tổng hợp/ Tham khảo Tổng cục Thống kê (gso.gov.vn)

Chi tiết

Tăng trưởng kim ngạch hơn 9%, xuất khẩu có dấu hiệu khởi sắc

(VLR) Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 5 có mức tăng khá so với tháng 4 trước đó, cho thấy những nỗ lực trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa đã phát huy tác dụng.

Cụ thể, tháng 5, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 37,35 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 19,19 tỷ USD, tăng 9,1% so với tháng 4/2020, tuy nhiên kim ngạch nhập khẩu đạt 18,18 tỷ, giảm 1,9%.

Lũy kế 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt gần 197 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu đạt 100,21 tỷ USD, giảm 0,9% so với cùng kỳ 2019; nhập khẩu 96,67 tỷ, giảm 4,6%.

Về cán cân thương mại, tháng 5, nước ta xuất siêu hơn 1 tỷ USD, qua đó đưa mức thặng dư trong 5 tháng đầu năm lên hơn 3,5 tỷ USD.

Theo Bộ Công Thương, thời gian qua, chuỗi cung ứng, thị trường xuất nhập khẩu bị gián đoạn do tác động của dịch Covid-19. Nhưng từ giữa tháng 4 đến nay, tình hình đã từng bước cải thiện, các nước châu Âu từng bước mở cửa trở lại đối với nền kinh tế. Nhiều nước đã tung ra các gói kích cầu quy mô lớn, tăng cường chi tiêu tài khóa để đối phó với dịch bệnh, duy trì các hoạt động kinh tế thiết yếu và hỗ trợ người lao động. Còn tại Mỹ, tính đến cuối tháng 5/2020, tất cả 50 tiểu bang ở Mỹ đã mở cửa lại từng phần sau khi đóng cửa 2 tháng để thực hiện các biện pháp hạn chế nhằm chống dịch Covid-19.Trị giá xuất khẩu tháng 5 sang nhiều thị trường chủ lực của Việt Nam đồng loạt tăng như Mỹ tăng 700 triệu USD; EU tăng 502 triệu USD; ASEAN tăng nhẹ 22,8 triệu USD. Đáng chú ý, 5 tháng đầu năm, riêng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt xấp xỉ 16 tỷ USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 2,43 tỷ USD và tương đương sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Trong thời gian qua, Bộ Công Thương đã triển khai các hoạt động kết nối giao thương trực tuyến giữa doanh nghiệp Việt Nam với đối tác có nhu cầu nhập khẩu, nhằm mở rộng thị trường cho nông sản nói riêng và hàng hóa nói chung. Ngay khi dịch Covid-19 chưa có dấu hiệu giảm nhiệt, Bộ Công Thương đã sớm tính đến việc triển khai các hình thức xúc tiến thương mại, khơi thông thị trường xuất khẩu cho hàng nông sản. Trung Quốc là thị trường đầu tiên được nhắm tới với sự kiện mở đầu là Hội nghị giao thương trực tuyến hàng hóa Việt Nam – Trung Quốc, thu hút sự tham gia của hơn 150 doanh nghiệp hai bên. Tiếp đó, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội thảo trực tuyến “Việt Nam – Ấn Độ: xúc tiến thương mại nông sản và thực phẩm chế biến”. Với gần 1,4 tỷ dân, Ấn Độ là thị trường có tiềm năng để doanh nghiệp xuất khẩu nông sản, thực phẩm của Việt Nam khai thác.

Đặc biệt, để xúc tiến tiêu thụ trái vải, Bộ Công Thương và tỉnh Bắc Giang đã tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ quả vải thiều năm 2020 vào đầu tháng 6/2020. Hội nghị được tổ chức trực tuyến, đầu cầu tại Bắc Giang, kết nối 62 tỉnh thành và với 2 tỉnh Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc) – là 2 tỉnh tiêu thụ chính trái vải Việt Nam tại thị trường Trung Quốc.

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) dự kiến sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2020. Cùng với CPTPP có hiệu lực trước đó dự báo sẽ tạo ra động lực mới cho xuất khẩu những tháng cuối năm 2020 và những năm tới.

Báo Công Thương điện tử

Chi tiết

Ngành hàng không Việt Nam “gượng dậy” sau COVID-19

(VLR) Cả nước vẫn xuất siêu 4 tỷ USD, dù hoạt động xuất nhập khẩu vẫn gặp nhiều khó khăn trong nửa đầu năm. Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên thế giới, đặc biệt tại các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam đã ảnh hưởng lớn đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng.

“Thảm họa” chưa từng có

“Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus SARS-CoV-2 (COVID-19) “kéo” hàng không chậm lại 3 – 4 năm và làm cho tích lũy của 4 – 5 năm trước coi như về 0”, nhận định này được ông Dương Trí Thành, Tổng Giám đốc Vietnam Airlines đưa ra khi cả nước thực hiện Chỉ thị 15/CT-TTg về đợt cao điểm phòng, chống dịch COVID-19.

Nhấn mạnh ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch COVID-19 là “chưa từng có trong lịch sử ngành hàng không” của cả thế giới và Việt Nam, ông Thành cho biết không có khách nên phải dừng bay. Riêng, Vietnam Airlines có 100 chiếc máy bay và bây giờ 40 máy bay nằm chờ. Đáng nói, máy bay phải dừng hoạt động nhưng cũng không thể cho thuê vì dịch bệnh bùng phát mạnh. Thời điểm này chưa có Chỉ thị 16/CT-TTg, có nghĩa là chưa đến “đỉnh điểm”.

Theo vị Tổng Giám đốc Vietnam Airlines, để giảm thiểu tối đa thiệt hại vì máy bay nằm chờ, hãng đã tìm được nguồn đối tác châu Âu để cho thuê máy bay từ tháng 1 vừa qua và hai bên đã đàm phán, làm gần xong hợp đồng cho thuê 10 chiếc máy bay. Thế nhưng phía đối tác đã hủy thuê máy bay với lý do châu Âu cũng bị dịch bệnh tấn công chưa từng có.

Tại cuộc họp đánh giá thiệt hại của ngành vận tải do dịch COVID-19 của Bộ Giao thông vận tải (GTVT) vào cuối tháng 02/2020, thay vì dự kiến thiệt hại 10.000 tỷ đồng như giữa tháng, theo ước tính mới nhất của Cục HKVN, các hãng hàng không trong nước sẽ thiệt hại, giảm doanh thu khoảng 25.000 tỷ đồng.

Dù dịch bệnh được kiểm soát trong tháng 4/2020, Cục HKVN khi đó lạc quan đưa ra kịch bản tổng thị trường sẽ đạt 67 triệu khách (giảm 15,4% so với năm 2019). Trong đó, các hãng HKVN vận chuyển được 12,7 triệu khách quốc tế (giảm 28,3%) và 35,3 triệu khách nội địa (giảm 5,5%), tổng vận chuyển chỉ đạt 48 triệu khách (giảm 9,2% so với cùng kỳ).

Tương tự như lò xo bị nén lại với các giải pháp hỗ trợ kịp thời, sự phục hồi của hàng không sẽ đóng vai trò kết nối và đòn bẩy quan trọng cho nhiều ngành nghề khác sau dịch. “Hàng không khai thác được như trước dịch, phải quý IV/2020. Tất nhiên, còn phụ thuộc vào các nước vốn là thị trường của HKVN kiểm soát COVID-19 nữa”, Phó Tổng Giám đốc VATM nhận định.

Trong trường hợp xấu hơn, dịch bệnh được kiểm soát trước tháng 6/2020, có tính đến hủy toàn bộ các chuyến bay đi, đến các nước, tổng thị trường chỉ đạt 62,1 triệu khách (giảm 22,6% so với 2019). Trong đó, các hãng HKVN vận chuyển được 10,4 triệu khách quốc tế (giảm 41,2%) và 35,3 triệu khách nội địa (giảm 5,5%), tổng vận chuyển chỉ đạt 45,7 triệu khách (giảm 17% so với cùng kỳ). Thực tế, giảm nhiều hơn dự báo.

Bao giờ hàng không hồi phục?

Theo ông Đinh Việt Thắng, Cục trưởng Cục HKVN, HKVN chịu ảnh hưởng rất nặng nề bởi dịch COVID-19 khi chỉ khai thác 1% – 2% đội bay. Hiện, HKVN mới chỉ khôi phục được một phần, còn 70% – 80% đội tàu bay (250 chiếc) vẫn đang nằm đất.

“Thực tế, hiện nay đã cuối tháng 5 vẫn đang trong tình trạng “đóng cửa” bầu trời. Trước dịch COVID-19 bình quân một ngày có 3.000 chuyến bay đi/đến, nay chỉ còn 800 chuyến bay/ngày. Thiệt hại không thể đo đếm được”, ông Lê Quốc Khánh, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Quản lý bay Việt Nam cho biết.

Rất khó để dự đoán bất kỳ tương lai nào cho ngành hàng không thế giới khi cuộc khủng hoảng do COVID-19 gây ra vẫn chưa chấm dứt.

Liên quan đến việc khôi phục lại thị trường hàng không, ông Đinh Việt Thắng nói rằng, theo dự báo của Cục HKVN, thị trường hàng không trong nước cơ bản khôi phục hoàn toàn vào giữa năm 2021. Nhưng thị trường hàng không quốc tế tương đối khó đoán vì diễn biến dịch bệnh COVID-19 ở các quốc gia trên thế giới hết sức phức tạp và việc khôi phục bay quốc tế phụ thuộc nhiều vào nhu cầu du lịch. Dự báo nhanh nhất phải cuối năm 2021, thị trường hàng không quốc tế mới khôi phục bằng năm 2019.

Là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề khi cơn bão COVID-19 quét qua, nhưng HKVN được dự báo sẽ là một trong những ngành có tốc độ hồi phục nhanh nhất sau dịch, dù mức tăng khó đạt kỳ vọng. Nếu hàng không hồi phục sớm, sẽ là động lực kéo theo nhiều lĩnh vực khác tăng tốc theo, từ du lịch, kinh tế dịch vụ tại nhiều địa phương.

Hiện, vẫn dừng khai thác toàn bộ đường bay quốc tế và nội địa đã khôi phục được 25% – 27%, nhưng các hãng
HKVN vẫn phải “gồng gánh” từ vài trăm tỷ đến hàng nghìn tỷ đồng mỗi tháng để duy trì hoạt động như tiền thuê, mua máy bay, tiền thuê sân đỗ, lãi suất ngân hàng… Các hãng đang phải đối mặt với tình trạng âm dòng tiền, cạn kiệt tiền dự trữ, phải đơn phương chậm thanh toán một số khoản nợ đến hạn, tăng vay ngắn để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Câu hỏi đặt ra là với thiệt hại vài chục nghìn tỷ đồng toàn thị trường, trong trường hợp sau dịch, các hãng hàng không còn đủ nguồn lực để chớp cơ hội thị trường phục hồi không?

Đề cập đến việc Bộ Tài chính vừa có Thông tư quy định mức thu, nộp phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không, trong đó giảm nhiều loại phí đến hết năm nay, ông Đinh Việt Thắng cho rằng, đây là một cú hích cả về tinh thần và vật chất để các hãng hàng không có quyết tâm vượt qua khó khăn này. Các vấn đề thuế, phí chỉ là cú hích hay hỗ trợ mồi. Quan trọng là hỗ trợ dài hạn không chỉ là giảm thuế phí mà chính là thiết lập các đường bay, hoạt động bay và đặc biệt là có nguồn vay để cho các hãng bổ sung nguồn vốn thiếu, vốn mất trong quá trình dịch bệnh để khôi phục lại sản xuất kinh doanh. Khi đó, các hãng có lãi mới có thể phát triển lại được thị trường.

Trước mắt, để hỗ trợ các hãng hàng không khôi phục vào thời điểm sống còn này, Cục HKVN sẽ hỗ trợ tối đa, tạo điều kiện tốt nhất cho các hãng khôi phục thị phần nội địa. Kiến nghị các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp trong ngành có các gói giảm giá, giãn giá, thậm chí là miễn giá. Làm việc với các ngân hàng có các gói vay ưu đãi cho các hãng hàng không có tiền để chi trả các chi phí nhằm tiếp tục duy trì các hoạt động.

Được biết, Vietnam Airlines đã đề nghị được hỗ trợ khoảng 12.000 tỷ đồng trong gói hỗ trợ tín dụng 250.000 tỷ đồng (thời hạn cho vay tối thiểu 3 năm, lãi suất 0%) để duy trì hoạt động.

 

Chi tiết

Việt Nam xuất siêu 1 tỷ USD trong tháng 5

(VLR) Tháng 5 vừa qua, Việt Nam xuất siêu hơn 1 tỷ USD, đưa mức thặng dư 5 tháng đầu năm lên hơn 3,5 tỷ USD.

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tháng 5, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 37,35 tỷ USD.

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 19,19 tỷ USD, tăng 9,1% so với tháng 4/2020, tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu đạt 18,18 tỷ, giảm 1,9%.

Lũy kế 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt gần 197 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 100,21 tỷ USD, giảm 0,9% so với cùng kỳ 2019; nhập khẩu 96,67 tỷ, giảm 4,6%.

Về cán cân thương mại, tháng 5, Việt Nam xuất siêu hơn 1 tỷ USD, đưa mức thặng dư 5 tháng đầu năm lên hơn 3,5 tỷ USD.

Cùng với đó, trị giá xuất khẩu sang nhiều thị trường chủ lực của Việt Nam đồng loạt tăng như: Mỹ tăng 700 triệu USD; EU tăng 502 triệu USD; ASEAN tăng nhẹ 22,8 triệu USD…

Cũng trong thời gian này, riêng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt xấp xỉ 16 tỷ USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 2,43 tỷ USD và tương đương sự tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Đáng chú ý, có 5 nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch 1 tỷ USD trở lên gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; dệt may; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; giày dép…

Những con số trên cho thấy, hoạt động xuất khẩu trong tháng 5 đã có nhiều khởi sắc và diễn biến tích cực hơn so với tháng 4, trước khi dịch Covid-19 đang từng bước được khống chế ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở chiều nhập khẩu, 5 tháng đầu năm có 2 nhóm hàng đạt kim ngạch 10 tỷ USD trở lên là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 22 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ 2019; máy móc, thiết bị đạt 13,87 tỷ USD, giảm 6,3%.

Theo VOV

Chi tiết

Thị trường logistics sẽ sôi động trong thời gian tới

(VLR) Dự kiến sẽ tăng vọt đơn hàng khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực, ngành logistics đang chuẩn bị hạ tầng, kỹ thuật để tận dụng cơ hội này…

Hiệp định EVFTA có hiệu lực dự báo sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho ngành dịch vụ logistics, bởi Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội thu hút nhà đầu tư nước ngoài, với làn sóng chuyển dịch mạnh mẽ của nhiều nhà máy đến từ các nước trong khu vực. Đặc biệt EVFTA được dự báo sẽ là đòn bẩy để Việt Nam đón nhận nguồn vốn đầu tư lớn của các nước FDI.

Thị trường bất động sản công nghiệp của Việt Nam gần đây đã trở lên sôi động với sự gia tăng của hợp đồng thuê đất và nhà máy tập trung nhiều ở khu công nghiệp và các tỉnh thành có cảng biển nước sâu trên cả nước. Do đó sự gia tăng này sẽ kéo theo nguồn cung dịch vụ vận tải logistics ở Việt Nam.

Đây là điều dễ hiểu bởi các doanh nghiệp sản xuất vẫn đang có xu hướng rời bỏ Trung Quốc do chi phí tăng ảnh hưởng từ COVID-19, cũng như xung đột Thương mại với Hoa Kỳ và chiến lược của các nhà sản xuất nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào một thị trường.

Điều này giúp Việt Nam có cơ hội để trở thành một trung tâm sản xuất mới của thế giới, đồng thời là nền tảng thiết yếu để phát triển mạnh mẽ ngành dịch vụ logistics.

Tận dụng thời cơ này nhiều tỉnh sở hữu lợi thế tiềm năng về cảng biển đã nhanh chóng phê duyệt quy hoạch phát triển trung tâm logistics. Mới đây UBND tỉnh Hà Tĩnh vừa có Quyết định phê duyệt lập quy hoạch trung tâm logistics và dịch vụ hậu cảng Sơn Dương theo tỷ lệ 1/500 tại Khu kinh tế Vũng Áng.

Phát triển Trung tâm logistics phía sau cảng Sơn Dương sẽ tạo thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng kết nối cụm cảng Sơn Dương – Vũng Áng với các vùng khác. Vị thế này không chỉ là trung tâm logistics chính của tỉnh, đảm bảo vai trò là Trung tâm logistics trong phạm vi Hà Tĩnh, khu vực miền Trung mà còn kết nối với hành lang kinh tế Đông – Tây và phục vụ các hoạt động giao thương quốc tế.

Trước đó, UBND thành phố Hải Phòng cũng vừa ban hành Kế hoạch số 153/KH-UBND, triển khai thực hiện quy hoạch phát triển hệ thống dịch vụ logistics thành phố Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Hiện nay, Hải Phòng là cửa ngõ xuất nhập khẩu lớn nhất khu vực miền Bắc, năm 2019 lưu lượng hàng hóa thông qua cảng đạt gần 130 triệu tấn. Đây cũng là địa bàn có nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics.

Tuy nhiên, để giúp ngành dịch vụ logistics Việt Nam phát triển, các chuyên gia cho rằng Chính phủ cần có cơ chế khuyến khích thúc đẩy, tạo động lực cho doanh nghiệp. Vì đa phần doanh nghiệp của Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thiếu và yếu khi tiếp cận các khách hàng từ đối tác lớn.

Trong đó, Việt Nam được xem là đối tác thương mại lớn thứ hai của Đức tại khu vực châu Á với hơn 4.000 doanh nghiệp Đức đang xuất khẩu tại Việt Nam. Do đó, để đẩy mạnh việc thu hút các đơn hàng từ doanh nghiệp FDI, thì doanh nghiệp dịch vụ vận chuyển Việt Nam cần bổ sung rất nhiều yếu tố quan trọng về nguồn lực tài chính, quy mô năng lực, trình độ kỹ thuật cũng như mức độ tín nhiệm cao trong hoạt động logistics.

Đánh giá về nguồn nhân lực ông Nguyễn Tương – Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Logistics Việt Nam (VLA) cho biết, hiện tại doanh nghiệp logistics của chúng ta còn thiếu nhân lực về công nghệ, trong khi đó doanh nghiệp logistics ngoại không có thế mạnh về kho bãi, nhưng họ sở hữu được nhiều đơn hàng lớn có liên kết với doanh nghiệp nước ngoài do họ nắm bắt được công nghệ và nguyên nhân do tập quán bán hàng xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy để cạnh tranh sòng phẳng trên sân nhà thì ngành logistics Việt phải nỗ lực hơn nữa trong công cuộc điều hành, quản lý đơn hàng, đặc biệt là sự hỗ trợ từ Chính phủ để có một lộ trình cải cách cụ thể giúp logistics phát triển.

Bên cạnh đó, VLA cũng cho rằng, cần chọn một số doanh nghiệp uy tín trong vận tải biển và dịch vụ logistics và tạo chính sách giúp họ có chiến lược đường dài như chính sách thuế, giảm lãi vay, hỗ trợ nguồn vốn cho vay vốn. Chính phủ có thể kêu gọi các ngành nghề khác ủng hộ đơn vị này. Cùng với đó cần phát triển vận tải đường sắt trong hoạt động logistics.

Diễn đàn doanh nghiệp

 

Chi tiết

Chính sách Khởi động làn sóng cải cách mới để “đón đại bàng về làm tổ”

(VLR) Ưu đãi về thuế quan hay đất đai là chưa đủ để đón làn sóng chuyển dịch đầu tư. Làn sóng dịch chuyển đầu tư khỏi Trung Quốc diễn ra kể từ khi quan hệ thương mại Mỹ – Trung trở nên căng thẳng từ năm 2018. Đại dịch COVID-19 xuất hiện khiến xu hướng này càng bộc lộ rõ nét hơn.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, kể từ tháng 8/2019 đến nay, Ấn Độ và Indonesia đã đẩy mạnh việc thu hút các tập đoàn quốc tế đang có kế hoạch dịch chuyển khỏi Trung Quốc.

Đến nay, đã có nhiều thông tin về việc các nhà đầu tư có kế hoạch dịch chuyển đầu tư tới Ấn Độ và các nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển sẽ không ngay lập tức, mà thường có lộ trình khoảng 2 – 5 năm, do các chuỗi cung ứng toàn cầu đã được hoàn thiện nên không thể nhanh chóng chuyển dịch.

Qua nghiên cứu các công bố chính sách thu hút FDI gần đây của một số nước trong khu vực; có thể thấy chính phủ các nước đang chủ yếu dùng 5 công cụ, gồm: thuế, đất đai, cải thiện môi trường kinh doanh, cung cấp gói hỗ trợ đào tạo công nhân lành nghề và có biện pháp tăng rào cản nhằm ngăn chặn tình trạng thâu tóm trong một số lĩnh vực…

Điển hình như Indonesia có kế hoạch giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 25% về mức 23% năm 2021 hay cam kết dành 400 ha cho các nhà đầu tư. Ấn Độ cũng miễn thuế từ 4-10 năm cho các dự án đầu tư trong 1 số lĩnh vực ưu tiên và cam kết dành ra quỹ đất rộng 461 ha nhằm thu hút doanh nghiệp rời khỏi Trung Quốc.

Tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định thành lập Tổ công tác thúc đẩy hợp tác đầu tư nước ngoài. Theo đó, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh nhận nhiệm vụ Tổ trưởng. Tổ phó thường trực là Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, còn tổ phó là Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Có thể thấy, Chính phủ đã quyết liệt hơn trong việc đón đầu làn sóng chuyển dịch đầu tư, “đón đại bàng về làm tổ”.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bên cạnh việc đưa ra những ưu đãi về thuế hay đất đai, việc cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng là một trong những nội dung cần chú trọng nếu muốn đón làn sóng chuyển dịch này.

Khởi động “làn sóng” cải cách lần thứ 3

Theo TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh là đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay, nếu muốn tận dụng làn sóng chuyển dịch dòng vốn đầu tư.

TS. Lộc nhìn lại, kể từ đầu nhiệm kỳ của Chính phủ, đã có 2 “đợt sóng” cải cách rất quan trọng.

Năm 2016, đã có một đợt rà soát tổng thể các điều kiện kinh doanh và cắt giảm hàng loạt điều kiện kinh doanh.

“Việc cắt giảm này nhằm thực hiện đúng theo quy định của Luật đầu tư: Chỉ những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, chính phủ mới được hướng dẫn thi hành trong nghị định của Chính phủ chứ không có giấy phép con”, ông Lộc nhấn mạnh.

Có thể nói, đây là “đợt sóng” cải cách đầu tiên về điều kiện kinh doanh và cải cách hành chính của nhiệm kỳ này.

Năm 2018, Việt Nam có đợt sóng cải cách thứ 2 khi Chính phủ áp đặt một mệnh lệnh bắt buộc các bộ, ngành phải trình phương án cắt giảm 50% các điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính.

Mặc dù, mức cắt giảm và tác động thực tế là thấp hơn, có thể là 30-40% nhưng dù sao đây cũng là một “đợt sóng” cải cách có ý nghĩa.

Đến năm nay, thực sự cần thiết phải tiến hành một “đợt sóng” cải cách mới trong bối cảnh Việt Nam đang ra sức thu hút đầu tư và là một trong những điểm đến của xu hướng dịch chuyển đầu tư.

VCCI đã phát hiện ít nhất 25 điểm còn chồng chéo giữa các văn bản pháp luật và kiến nghị với Chính phủ và Quốc hội chương trình tổng thể để xoá bỏ những điểm còn chồng chéo và bất hợp lý trong các văn bản pháp luật.

TS. Lộc cho biết, những kiến nghị từ VCCI đã được Chính phủ ghi nhận và thành lập một tổ công tác để rà soát những điểm chồng chéo, bất hợp lý của các văn bản pháp luật. Hy vọng với hoạt động từ 14 nhóm công tác trong tổ công tác, sẽ có hàng loạt kiến nghị sửa đổi những điểm bất hợp lý trình lên Quốc hội.

“Và nếu sửa đổi được những điểm này, chúng ta sẽ có cơn sóng cải cách mới về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam”, ông Lộc kỳ vọng.

Bizlive

Chi tiết

Xuất nhập khẩu Xuất khẩu: Kỳ vọng “lội ngược dòng” nhờ EVFTA

(VLR) Chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, suốt nửa đầu năm nay, xuất khẩu (XK) hàng hóa của Việt Nam ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng tại tất cả ngành hàng chủ lực. Cục diện này liệu có thay đổi ở nửa cuối năm phụ thuộc tình hình dịch Covid-19 được khống chế trên phạm vi toàn cầu và việc tận dụng được ưu thế từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA) trong đó có Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực từ 01/8/2020.

3 mũi chủ lực đều gặp khó

Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính chung 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch XNK hàng hóa đạt 238,4 tỷ USD, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, XK đạt 121,2 tỷ USD, giảm 1,1%; NK đạt 117,2 tỷ USD, giảm 3%. Trong 6 tháng đầu năm, Việt Nam xuất siêu đạt mức 4 tỷ USD.

Riêng ở góc độ XK, 6 tháng qua, khu vực kinh tế trong nước đạt 41,38 tỷ USD, tăng 11,7%, chiếm 34,1% tổng kim ngạch XK; khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 79,83 tỷ USD, giảm 6,7%, chiếm 65,9%.

Bộ Công Thương đánh giá, việc khối DN trong nước vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng hai con số trong bối cảnh kim ngạch XK của khối DN FDI sụt giảm được xem là điểm sáng của hoạt động XK hàng hóa từ đầu năm đến nay.

Bộ Công Thương phân tích, điểm đáng chú ý trong “bức tranh” XK những tháng đầu năm nay là sự sụt giảm XK của cả 3 nhóm ngành quan trọng. Cụ thể, 5 tháng đầu năm, nhóm hàng công nghiệp chế biến có mức giảm thấp nhất là 1,2% so với cùng kỳ năm 2019; tiếp theo là đến nhóm hàng nông, thủy sản với mức giảm 4,7% và nhiên liệu khoáng sản có mức giảm cao nhất là 31,3%. “Như vậy, không còn chỉ là giảm tốc nữa, chịu ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, bị nhiều đối tác cắt đơn hàng, XK của Việt Nam càng ngày càng gặp nhiều khó khăn trong quý 2/2020”, Bộ Công Thương nhận định.

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, đại diện Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho hay, đến nay đã có trên 80% các nhà mua hàng xuất sang thị trường Mỹ thông báo dừng mua hàng, hủy đơn hàng đợi tình hình mới. 81% DN XK sang thị trường EU đã nhận được thông báo hủy đơn và giãn đơn hàng. Các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng giảm từ 60-80%.Điển hình trong câu chuyện gặp khó nửa đầu năm do dịch Covid-19 là trường hợp của ngành gỗ. Sau nhiều năm liên tiếp duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 12-15%/năm thì 5 tháng đầu năm nay, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ chỉ đạt 3,94 tỷ USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm 2019.

Đáng chú ý, với diễn biến phức tạp của dịch bệnh, hiện tại các khách hàng không tới nhà máy duyệt mẫu. Do đó, các DN gỗ Việt chưa ký được đơn hàng mới cho mùa hàng 2020 – 2021. Điều này kéo theo nhiều nhà máy tiềm ẩn nguy cơ đóng cửa và ngừng hoạt động trong thời gian tới, hàng trăm nghìn lao động đối mặt với tình trạng thất nghiệp, không đảm bảo việc làm và an sinh xã hội cho người lao động trong thời gian dài.

Hiện tại, Việt Nam mặc dù đã thành công trong cuộc chiến chống Covid-19, nhưng việc thu hút đầu tư, đẩy mạnh XK lại phụ thuộc lớn vào yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, dịch Covid-19 trên thế giới vẫn đang có những diễn biến phức tạp và ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế toàn cầu, quá trình hồi phục sẽ mất nhiều thời gian. Từ những phân tích trên, Bộ Công Thương cho rằng, trong những tháng tới, XNK của Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục xu hướng hồi phục nhưng kim ngạch vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2019.

Mong đợi vào EVFTA

Bên cạnh khó khăn, Bộ Công Thương cũng chỉ ra không ít yếu tố hỗ trợ XK nửa cuối năm. Điển hình như, thời gian qua, chuỗi cung ứng, thị trường XNK bị gián đoạn do tác động của dịch Covid-19. Nhưng từ giữa tháng 4 đến nay, tình hình đã từng bước cải thiện, các nước châu Âu từng bước mở cửa trở lại đối với nền kinh tế. Nhiều nước đã tung ra các gói kích cầu quy mô lớn, tăng cường chi tiêu tài khóa để đối phó với dịch bệnh, duy trì các hoạt động kinh tế thiết yếu và hỗ trợ người lao động. Còn tại Mỹ, tính đến cuối tháng 5, tất cả 50 tiểu bang ở Mỹ đã mở cửa lại từng phần sau khi đóng cửa 2 tháng để thực hiện các biện pháp hạn chế nhằm chống dịch Covid-19.

Bên cạnh đó, việc kiểm soát dịch bệnh của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao, được xem là động lực quan trọng để thu hút nhiều hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sau đại dịch. Trong khi đó, các tập đoàn xuyên quốc gia đang xem xét dịch chuyển đầu tư, đây là cơ hội lớn cho Việt Nam đón đầu làn sóng đầu tư này. Gần đây, Chính phủ Nhật Bản đã chi 2,2 tỷ USD hỗ trợ DN nước này rời Trung Quốc. Chính phủ Mỹ cũng yêu cầu các công ty của Mỹ sớm di dời nhà máy tại Trung Quốc.

Thực tế cũng cho thấy, hiện có nhiều thông tin các tập đoàn công nghệ lớn của thế giới lên kế hoạch dịch chuyển chuỗi sản xuất đến Việt Nam. Cụ thể như, LG đã chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất từ Hàn Quốc về Hải Phòng. Theo Nikkei, trong quý 2/2020, Apple sẽ sản xuất 3 – 4 triệu chiếc tai nghe AirPods tại Việt Nam, tương đương gần 1/3 tổng sản lượng AirPods trên toàn thế giới. Foxconn – nhà cung ứng linh kiện cho Apple đã đặt nhà máy tại Bắc Giang. Panasonic Việt Nam cũng đang chuẩn bị vào đầu tháng 9 năm nay sẽ từng bước tiếp nhận để sản xuất tủ lạnh và máy giặt cửa đứng công suất lớn từ Thái Lan.

Đáng chú ý, Hiệp định EVFTA dự kiến sẽ có hiệu lực từ tháng 8/2020 tạo ra động lực mới cho XK những tháng cuối năm 2020 và những năm tới. Việc Việt Nam phê chuẩn EVFTA vào thời điểm này sẽ tạo động lực cho việc phục hồi kinh tế trong nước sau đại dịch Covid-19. Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) phân tích: “Với Hiệp định EVFTA, chúng ta có thế mạnh rất lớn. Các nước có Hiệp định với EU rất ít. Ở khu vực châu Á, EU chỉ ký hiệp định hợp tác với Hàn Quốc, Singapore, tuy nhiên, hai nước này lại không có cơ cấu sản xuất giống như Việt Nam. Do vậy, về lâu dài, Hiệp định sẽ tạo ra lợi thế ổn định cho XK của Việt Nam”.

Xung quanh câu chuyện XK hàng hóa nửa cuối năm, chuyên gia thương mại Phạm Tất Thắng nhận định, nếu EU khống chế được dịch Covid-19 trong quý 2 để bắt đầu quý 3, quý 4 khôi phục lại hoạt động sản xuất thì EVFTA sẽ là tuyến đường, cánh cửa rộng để đưa hàng sang thị trường EU. Thị trường EU cần NK các mặt hàng như dệt may, giày dép, đồ gỗ, đặc biệt là điện thoại, linh kiện điện tử… Đây toàn mặt hàng có kim ngạch XK lớn, chủ lực của Việt Nam. Việt Nam mà tận dụng tốt được Hiệp định EVFTA thì vẫn có thể bù đắp được thiệt hại trước đó do dịch Covid-19 gây ra cho XK hàng hóa.

Báo Hải quan

 

Chi tiết

Số lượng doanh nghiệp thành lập mới đang tăng trở lại

Sau hai tháng nới lỏng và gỡ bỏ các biện pháp giãn cách xã hội, các hoạt động kinh tế – xã hội đang dần được khôi phục. Doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng, bám sát chính sách hỗ trợ của Chính phủ, từng bước đưa sản xuất kinh doanh vào hoạt động trở lại.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, số lượng doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Sáu tiếp tục có sự khởi sắc với 13,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,9% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có hơn 62 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm 2019; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 16,4%; doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể giảm 10,2% và số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể giảm 5%. Bên cạnh đó, kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo cũng cho thấy các doanh nghiệp kỳ vọng tình hình sản xuất kinh doanh của quý III khả quan hơn quý II/2020.

Trong tháng 6/2020, cả nước có 13.725 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 139,1 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 100 nghìn lao động, tăng 27,9% về số doanh nghiệp, tăng 23,4% về vốn đăng ký và tăng 9,4% về số lao động so với tháng trước.

Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 10,1 tỷ đồng, giảm 3,5% so với tháng trước và giảm 31% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng, cả nước còn có 4.998 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,1% so với tháng trước và tăng 133,9% so với cùng kỳ năm 2019; có 3.217 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 3,7% và tăng 36,8%; có 3.843 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 24,7% và tăng 31,1%; có 1.368 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 42,2% và giảm 6%; có 5.146 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 48,2% và tăng 96%.

Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có hơn 62 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 697,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 507,2 nghìn lao động, giảm 7,3% về số doanh nghiệp, giảm 19% về vốn đăng ký và giảm 21,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đạt 11,2 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 984,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 18 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm là 1.681,5 nghìn tỷ đồng, giảm 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 25,2 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,4% so với 6 tháng đầu năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng lên 87,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trung bình mỗi tháng có 14,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, 6 tháng đầu năm có 1.095 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; có 17,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 1,8%; có 43,1 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 9,9%.

Trong tất cả các ngành, lĩnh vực hoạt động, bên cạnh ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản còn có ngành sản xuất phân phối điện, nước, gas có số doanh nghiệp thành lập mới đạt 1.500 doanh nghiệp, tăng 134,7% so với cùng kỳ năm trước và ngành khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác 5.555 doanh nghiệp, tương đương cùng kỳ năm 2019.

Các hoạt động doanh nghiệp đang dần sôi động trở lại

 

Các ngành còn lại đều có số doanh nghiệp thành lập mới giảm: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 20,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm 2019; xây dựng 8.164 doanh nghiệp, giảm 6,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo 7.908 doanh nghiệp, giảm 7,4%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác 3.241 doanh nghiệp, giảm 17,3%; kinh doanh bất động sản 2.929 doanh nghiệp, giảm 27%; vận tải, kho bãi 2.641 doanh nghiệp, giảm 6,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 2.469 doanh nghiệp, giảm 21,2%; thông tin truyền thông 1.813 doanh nghiệp, giảm 4,4%; giáo dục và đào tạo 1.556 doanh nghiệp, giảm 20,9%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 611 doanh nghiệp, giảm 14,9%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí 421 doanh nghiệp, giảm 37,3%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 403 doanh nghiệp, giảm 10,2%; khai khoáng 311 doanh nghiệp, giảm 4,9%.

Trong 6 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 29,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,2% so với cùng kỳ năm trước; 19,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 10,2%; 7,4 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 5%, trong đó có 6,6 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 6,4%; 108 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, tăng 0,9%.

Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có gần 2,7 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 877 doanh nghiệp; xây dựng có 616 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 480 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 444 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 432 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 422 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 313 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 277 doanh nghiệp; thông tin truyền thông có 269 doanh nghiệp.

Trong 6 tháng, trên cả nước còn có 22,4 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 33,9% so với cùng kỳ năm trước.

VITIC tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê
(gso.gov.vn)

Chi tiết
khi-v-long-an-international-port