Số 68 Đường Tỉnh 830, Ấp Vĩnh Hòa, Xã Tân Tập, Huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An

Posts by Nhi Trần

Doanh nghiệp logistics: Làm sao để vượt “bão” COVID-19?

(VLR) – Là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều nhất từ hoạt động ngoại thương, khi hoạt động này “tê liệt” vì COVID-19, ngành dịch vụ logistics được đánh giá là một trong những ngành chịu nhiều thiệt hại nhất.
Doanh nghiệp logistics kỳ vọng phục hồi trong giai đoạn tới

Doanh nghiệp logistics “kêu cứu”

Dịch COVID-19 bùng phát từ Trung Quốc và lan nhanh ra nhiều quốc gia khác được dự báo sẽ tác động mạnh đến ngành logistics ngay từ đầu năm. Thực tế, ông Phùng Tiến Toàn, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Đầu tư thương mại và dịch vụ quốc tế (ILS), cho biết, ngay từ khi dịch có dấu hiệu bùng phát, lượng đơn hàng qua đường thủy, đường bộ của công ty đã giảm mạnh.

“Do ảnh hưởng của dịch bệnh, đơn hàng giảm nên ILS phải bố trí cho nhân viên làm việc từ xa. Một bộ phận, nhất là tài xế phải nghỉ luân phiên để phòng, chống dịch. Để giữ chân nhân viên, chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi sau dịch, dù khó khăn do doanh thu giảm mạnh, ILS vẫn phải cố gắng duy trì chế độ cho người lao động”, ông Toàn chia sẻ.

Đại dịch COVID-19 có tác động mạnh mẽ tới các nền kinh tế và đời sống xã hội của cả thế giới, làm đảo lộn chuỗi cung ứng toàn cầu, trong đó có hoạt động logistics. Do nhiều nhà máy phải tạm ngưng hoạt động nên lượng hàng hóa cần lưu chuyển ít đi dẫn đến việc vận chuyển và giao nhận hàng hóa trong chuỗi cung ứng cũng giảm, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp (DN) kinh doanh dịch vụ vận tải logistics. Bên cạnh đó, DN cũng bị giảm nguồn thu đáng kể đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu từ các nước có dịch như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore…

Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) phân tích, các hoạt động logistics như vận tải giảm do dịch vụ thông quan bị cản trở, dịch vụ kho bãi, cước cũng bị ảnh hưởng nặng. Một số vấn đề phát sinh khác như một số khách hàng Trung Quốc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến mất khả năng trả nợ cho chủ hàng, nhà cung cấp Việt Nam kéo theo việc chủ hàng chậm thanh toán cho DN logistics.

Cụ thể, đối với vận tải tàu biển, các tuyến chủ yếu là từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các hãng tàu như ONE, HMM và một số hãng tàu khác đều giảm tàu nối tất cả các tuyến, ảnh hưởng đến lịch xuất hàng và chất lượng dịch vụ. Hầu hết hàng nhập trên các tuyến về Việt Nam giảm mạnh, một số thị trường khác bị kiểm dịch gắt gao. Các thủ tục vận hành từ thị trường khu vực châu Á và một số khu vực khác chậm trễ hơn so với bình thường.

Đối với đường hàng không, các hãng hàng không hiện nay đều hủy các tuyến bay tới Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, đồng thời hạn chế tối đa các chuyến bay từ vùng dịch. Ngoài ra, giá cước vận chuyển hàng hóa tăng cao hơn so với bình thường. Trong khi đó, các tuyến biên giới đều khó để kiếm được nhà cung cấp vận chuyển. Lượng hàng giảm dẫn đến nhu cầu về vận tải đường bộ giảm khoảng 30%.

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) thông tin, tính đến nay, đã có khoảng 15% – 50% các DN cung cấp dịch vụ logistics, tùy theo loại hình dịch vụ bị giảm sút về các hoạt động và doanh thu. Dịch vụ vận tải hàng không và đường bộ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. “Khoảng 80% hội viên của Hiệp hội là DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa cho nên nhiều DN có nguy cơ ngừng mọi hoạt động; nhiều lao động bị giãn và mất việc nếu đại dịch kéo dài thêm”, ông Lê Duy Hiệp lo ngại.
Trước những diễn biến phức tạp như hiện nay, nhằm hỗ trợ DN ngành logistics, VLA đã đề nghị Chính phủ giảm 50% thuế thu nhập DN cho năm 2020. Khoản thuế giảm này xem như một phần để hỗ trợ DN vượt qua khó khăn kinh doanh năm 2020. Giãn, hoãn và giảm các khoản đóng góp Quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm y tế từ các DN bị ảnh hưởng.

Đối với các DN kho lạnh, kho mát hàng xuất nhập khẩu cần được ưu đãi về giá điện bởi hiện nay giá khu vực dịch vụ này vẫn cao hơn giá điện sản xuất từ 25% – 30%. Ông Lê Duy Hiệp đánh giá, những kiến nghị của VLA về giãn nợ, nộp thuế đã được Chính phủ bước đầu tháo gỡ. Tuy nhiên, phải mất thời gian và thực hiện thủ tục theo yêu cầu của ngân hàng. Các quyết định về giảm giá xăng dầu đã có hiệu quả rất tích cực đối với các DN và toàn nền kinh tế nói chung.

“Mới đây nhất, Cục Hàng hải Việt Nam đã quyết định sẽ giảm 10% giá hoa tiêu cho DN vận tải biển Việt Nam hoạt động tuyến nội địa do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thời gian thực hiện giảm giá trong 3 tháng kể từ ngày 01/5/2020. Đây là động lực rất lớn cho DN”, ông Hiệp chia sẻ.

Chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi

Bộ Công thương nhận định, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam có những kỳ vọng tích cực trong thời gian tới. Cụ thể, dịch COVID-19 cơ bản đã được khống chế tại Trung Quốc, hoạt động xuất nhập khẩu không còn bị hạn chế sẽ là cơ hội cho Việt Nam trong việc xuất khẩu hàng nông sản sang Trung Quốc trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các ưu đãi của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được kỳ vọng sẽ có những tác động thúc đẩy sản xuất trong nước…

Hoạt động ngoại thương được cải thiện sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy ngành logistics phát triển. Để nắm bắt cơ hội này, ông Lê Duy Hiệp chia sẻ, VLA đang chủ động xây dựng kế hoạch hành động của ngành cung cấp dịch vụ logistics, tập trung vào ba vấn đề chính là nguồn tài chính cho kinh doanh, thúc đẩy các hoạt động cung cấp dịch vụ và ổn định đời sống của người lao động.

Ông Hiệp cho biết: “Tạo nền tảng cho sự hồi phục của DN, VLA mong muốn Chính phủ chỉ thị cho các Bộ, ngành có biện pháp triển khai việc cho DN vay với lãi suất thấp, giảm hoặc giãn thuế của DN một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn nữa”.

Cùng với hỗ trợ từ các cơ quan chức năng, các DN được khuyến cáo cần cắt giảm chi tiêu hành chính, tăng cường hợp tác quốc tế, tìm các thị trường mới, hạn chế hoặc không phụ thuộc nhiều vào thị trường, khách hàng truyền thống. Bên cạnh đó các DN cần tận dụng các FTA thế hệ mới, nhất là EVFTA bởi dịch vụ logistics là những dịch vụ có các cam kết đáng chú ý, theo hướng mở – mạnh hơn đáng kể so với Hiệp định Thương mại quốc tế (WTO) và mang lại nhiều lợi ích cho DN.

Theo Nhân dân
Chi tiết

Đường sắt cầm cự nhờ tàu hàng

(VLR) Vận tải hàng cứu ngành đường sắt trong bối cảnh tàu khách gần như phải dừng hoạt động toàn bộ do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

Ngành đường sắt tăng cường các dịch vụ vận chuyển hàng hóa trong mùa dịch

Từ tháng 4/2020, thực hiện nghiêm Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ về giãn cách xã hội, tuyến đường sắt Hà Nội – TP. HCM chỉ còn một đôi tàu khách SE3/SE4 hoạt động. Để phục vụ nhu cầu vận chuyển nhanh các mặt hàng cần điều kiện bảo quản tốt, ngành đường sắt đã chuyển sang vận chuyển bằng các đoàn tàu hàng và hình thức đặt hàng online.

Giao, nhận hàng tận cửa

Theo ông Vũ Anh Minh, Chủ tịch HĐTV Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam (VNR), dịch vụ vận chuyển hàng hóa theo phương thức “từ nhà đến nhà” đã được ngành đường sắt đưa vào thực hiện, khai thác từ tháng 8/2019. Khách hàng chỉ cần truy cập website: harapost.vn để đặt vận chuyển trực tuyến hoặc khách hàng có thể đến đặt vận chuyển tại các cửa đăng ký nhận vận chuyển hàng hóa qua harapost ở các ga. Căn cứ vào những thông tin đó, nhân viên của ngành đường sắt sẽ vận chuyển đến tận nơi cho người nhận.

Do dịch COVID-19, trên tuyến đường sắt Bắc – Nam hiện chỉ còn chạy một đôi tàu khách SE3/SE4/ngày. Vì vậy, các chuyến tàu hàng hóa có điều kiện rút ngắn thời gian chạy tàu, vận chuyển và trả hàng hóa nhanh do không phải dừng, tránh tàu như trước.

Bà Phùng Thị Lý Hà, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Vận tải đường sắt Hà Nội (Haraco), cho biết tàu khách Bắc – Nam mỗi chuyến một ngày hiện chỉ đạt khoảng 400 khách/lượt, giảm nhiều so với trước đây. Do lượng khách ít, công ty đang chú trọng sang vận chuyển hàng hóa. Tàu hàng có nhiều chuyến riêng, không đi chung với tàu khách. Mỗi ngày có 2 chuyến tàu hàng nhanh, một tàu chuyên hàng container từ ga Yên Viên (Hà Nội) đi ga Sóng Thần (Bình Dương); một tàu chuyên vận chuyển theo hình thức chuyển phát nhanh, tuyến Hà Nội – Sài Gòn. Ngoài ra, còn có thêm 2 chuyến tàu hàng thường mỗi ngày từ Giáp Bát (Hà Nội) đi Sóng Thần và ngược lại.

Đối với hàng chuyển phát nhanh, trong thời gian dịch COVID-19, lượng hàng hóa tăng nhanh. Đó là những mặt hàng thương mại, gia dụng được mua qua hình thức trực tuyến.

Cũng theo bà Phùng Thị Lý Hà, hàng chuyển phát nhanh từ đặt hàng online mỗi ngày thu được khoảng 50 triệu đồng tiền cước phí, chưa tính các mặt hàng chuyển cho Viettel, bưu điện, giao hàng tiết kiệm… Riêng hai tàu nhanh chuyên chuyển phát nhanh, chưa kể 2 chuyến từ Giáp Bát – Sóng Thần, doanh thu khoảng 700 triệu/ngày. Bà Hà cho rằng vận chuyển qua đường sắt giá cước rẻ, tàu chạy nhanh nên được nhiều khách hàng lựa chọn trong giai đoạn hiện nay.

Những mối hàng lớn

Ông Phan Quốc Anh, Phó Tổng giám đốc VNR, cho biết đã ký thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn Hóa chất Việt Nam để thực hiện kế hoạch vận chuyển bằng đường sắt năm 2020 lên khoảng 1,6 triệu tấn. Từ các nguyên vật liệu đầu vào như apatit đến sản phẩm đầu ra như phân bón, hóa chất của tập đoàn này đều vận chuyển bằng đường sắt.

“Chúng tôi tìm mọi cách để thu hút được vận tải hàng hóa trong mùa dịch, kể cả đẩy mạnh vận chuyển hành lý, hàng bưu kiện, chuyển phát nhanh theo tàu khách. Dù ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, các chủ hàng thuê vận tải nguyên vật liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra cho các nhà máy cũng giảm sản lượng vận chuyển nhưng doanh thu vận tải hàng quý I năm nay vẫn tăng 5% so với cùng kỳ 2019” – ông Quốc Anh cho biết.

Hiện tàu container lạnh liên vận quốc tế vận chuyển thanh long chạy thẳng từ ga Đồng Đăng sang ga Bằng Tường (Trung Quốc) khai thác từ tháng 2/2020 đã có được lượng hàng ổn định, chạy đều đặn hằng tuần. Đến nay, đã xuất được khoảng 200 container. Đây là sản phẩm vận tải logistics trọn gói, mở ra hướng xuất khẩu chính ngạch hàng trái cây và nông sản đông lạnh bằng đường sắt sang Trung Quốc và từ đó đi Trung Á, châu Âu.

Ông Phan Quốc Anh thông tin thêm: “Việc tập trung phát triển vận tải hàng hóa không chỉ trong mùa dịch COVID-19 mà là định hướng lâu dài của ngành đường sắt. Để phát triển vận tải hàng, đường sắt đã đóng mới khoảng 300 toa xe chở container; thử nghiệm và đưa vào vận hành chính thức hệ thống quản trị vận tải hàng hóa qua mạng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, thuận tiện hơn cho khách hàng.

Còn theo ông Đỗ Văn Hoan, Chủ tịch HĐQT Haraco, quý I/2020, doanh thu vận tải hàng của công ty tăng trưởng khoảng 10% – 11% so với năm 2019. Công ty đã đưa vào khai thác một số sản phẩm mới, đặc biệt đôi tàu container nhanh H9/H10 hành trình 40 giờ như tàu khách tuyến Bắc – Nam duy trì chạy hằng ngày.

Thêm kho bãi để hạ chi phí

Hiện Haraco đã tạm dừng đầu tư lớn về toa xe khách và triển khai đóng mới 100 toa xe hỗn hợp để có thể chở được nhiều mặt hàng, kể cả container; bên cạnh đó có kế hoạch đầu tư một số thiết bị tại các điểm đầu, cuối như ôtô, cẩu xếp dỡ… để không phải đi thuê của các doanh nghiệp khác, chủ động hơn trong xây dựng giá thành vận tải logistics.

“VNR cần đầu tư hạ tầng kho bãi để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vận tải cung cấp các dịch vụ kết nối đầu cuối, hạ chi phí logistics” – Đỗ Văn Hoan, Chủ tịch HĐQT Haraco, đề nghị.

Theo Người lao động
Chi tiết

Tìm giải pháp miễn giảm thuế, phí, gỡ khó vận tải biển

(VLR) Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa yêu cầu Bộ GTVT phối hợp với các bộ, ngành tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN vận tải biển.

Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành liên quan nghiên cứu cơ chế về nguồn vốn, tiếp tục rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh tạo điều kiện cho DN vận tải biển Việt Nam phát triển – Ảnh minh họa

Cắt giảm điều kiện kinh doanh, đa dạng hóa nguồn vốn phát triển vận tải biển

Trao đổi với Báo Giao thông chiều tối nay (12/4), đại diện Cục Hàng hải VN cho biết, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng vừa có ý kiến chỉ đạo về giải pháp khắc phục khó khăn và hỗ trợ doanh nghiệp vận tải biển.

Theo đó, Phó Thủ tướng giao Bộ GTVT ưu tiên rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015; Rà soát, điều chỉnh các chiến lược, đề án quy hoạch phát triển ngành hàng hải đến năm 2030, bảo đảm đáp ứng với điều kiện phát triển kinh tế xã hội đến năm 2030 và định hướng sau năm 2030, đặc biệt tập trung khẩn trương thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển quốc gia theo quy định của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 955/2018.

“Bộ GTVT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, cắt giảm tối đa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đối với dịch vụ vận tải biển; Đồng thời, tiếp tục phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và các cơ quan liên quan hướng dẫn các DN sử dụng các nguồn vốn đầu tư phát triển đội tàu; đôn đốc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa, tăng cường liên doanh, liên kết với các đối tác trong nước và nước ngoài để đa dạng hóa nguồn vốn, tăng hiệu quả đầu tư phát triển vận tải biển của Việt Nam”, Phó Thủ tướng yêu cầu.

Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu, xem xét các kiến nghị liên quan đến chính sách thuế, phí của Bộ GTVT. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét miễn, giảm các chi phí của DN thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để hỗ trợ doanh nghiệp vận tải biển về phát triển nguồn nhân lực, hoạt động sản xuất kinh doanh trong giai đoạn hiện nay.

Đối với những nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tài chính tổng hợp, nghiên cứu trong quá trình rà soát dự án Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi và Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi.

Kiến nghị hàng loạt giải pháp miễn giảm thuế, phí, tháo gỡ khó khăn hiện tại

Liên quan đến vấn đề này, Cục Hàng hải VN cho biết cuối tháng 3/2020 đã đề xuất Bộ GTVT hàng loạt giải pháp hỗ trợ DN vận tải biển phát triển, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn do tác động của dịch Covid-19 ở thời điểm hiện tại.

“Cụ thể, Cục Hàng hải VN đề xuất Bộ GTVT tiếp tục kiến nghị với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước cho phép DN kinh doanh dịch vụ hàng hải được tiếp cận nguồn tài chính tại gói tín dụng 250 nghìn tỷ với lãi suất thấp hơn thị trường nhằm khôi phục lại hoạt động sản xuất, kinh doanh; Xem xét bổ sung DN vận tải biển vào trong danh mục doanh nghiệp vừa và nhỏ được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất là 10% trong 15 năm.

Về thuế giá trị gia tăng, theo quy định tại Thông tư số 219/2013 của Bộ Tài chính quy định, vận tải quốc tế được áp dụng mức thuế GTGT 0%, trong khi vận tải nội địa vẫn đang áp dụng mức thuế GTGT 10%.

Để tạo điều kiện cho DN vận tải nội địa trong giai đoạn khó khăn, Cục Hàng hải VN kiến nghị Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu đề xuất miễn giảm thuế GTGT đối với vận tải nội địa trong thời gian 3 năm và nghiên cứu miễn thuế nhập khẩu các loại vật tư, phụ tùng, trang thiết bị để sửa chữa tàu biển mà Việt Nam chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chưa được các tổ chức hàng hải quốc tế có thẩm quyền công nhận phù hợp”, đại diện Cục Hàng hải VN thông tin.

Trao đổi với Báo Giao thông, ông Bùi Việt Hoài, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Vận tải biển VN cũng bày tỏ mong muốn, trước tác động của dịch COVID-19, trong thời gian ngắn hạn, các DN sẽ được Chính phủ chỉ đạo Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại nghiên cứu cơ chế khoanh nợ, gia hạn thời gian trả lãi suất/thuế thu nhập DN cho DN.

“Về dài hạn, DN vận biển kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các tập đoàn, tổng công ty có vốn Nhà nước (như vận chuyển than phục vụ nhà máy nhiệt điện của các Tập đoàn Điện lực, Dầu khí) thực hiện đấu thầu trong nước với các tiêu chí phù hợp để nâng cao khả năng trúng thầu của DN vận tải biển Việt Nam; Đồng thời, nghiên cứu miễn thuế thu nhập cho thuyền viên chạy tuyến nội địa như thuyền viên Việt Nam làm việc trên tuyến nước ngoài”, ông Hoài nói.

Theo Báo Giao thông
Chi tiết

CẢNG QUỐC TẾ LONG AN GỬI TẶNG KHẨU TRANG VẢI CHO CBCNV VÀ ĐỐI TÁC KHÁCH HÀNG

Trước tình hình khan hiếm khẩu trang y tế và hưởng ứng tuân thủ chỉ đạo đeo khẩu trang của Thủ Tướng Chính Phủ để phòng chống dịch bệnh virus COVID-19, Cảng Quốc tế Long An quyết định gửi tặng khẩu trang vải cho CBCNV và đối tác khách hàng. Hành động này thể hiện được sự quan tâm cũng như là luôn đồng hành cùng với mọi người trước những khó khăn trong mùa dịch này.

Những chiếc khẩu trang được may với chất liệu vải kháng khuẩn chất lượng cao, mềm mại, thoáng khí, không gây kích ứng da, có thể giặt để tái sử dụng, hướng đến bảo vệ môi trường.

Đi cùng hoạt động này, Cảng Quốc tế Long An khuyến nghị các bạn hãy luôn chủ động nâng cao nhận thức bảo vệ sức khỏe của bản thân, gia đình cũng như cộng đồng bằng cách thường xuyên cập nhật và thực hiện đầy đủ các khuyến cáo của Bộ Y Tế khi dịch viêm phổi cấp ngày càng diễn biến phức tạp.

Chi tiết

5 bất cập đang “cản chân” ngành logistics Việt Nam

(HQ Online) – Hàng loạt bất cập như chi phí dịch vụ cao, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về logistics còn hạn chế cả về nhân lực và trình độ, chính sách chưa kip thời sửa đổi cho phù hợp với đặc thù của hoạt động logistics trong thực tiễn… đã và đang  là những yếu tố  “cản chân” sự phát triển của ngành logistics Việt Nam.

5 bat cap noi com can chan nganh logistics viet nam
Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển thị trường cho logistics là một trong những giải pháp khả thi thúc đẩy phát triển ngành logistics Việt Nam. Ảnh: T.Bình.

Quy mô nhỏ, kém cạnh tranh

Bộ Công Thương vừa có báo gửi Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Bình Minh, Chủ tịch Ủy ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại về tình hình phát triển logistics tại Việt Nam.

Báo cáo nêu rõ, theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), trong thời gian vừa qua dịch vụ logistics của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng tương đối cao đạt 14-16%, quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm, tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics đạt khoảng 60-70%, đóng góp khoảng 4-5% GDP.

Năm 2019, các ngành dịch vụ vận tải, kho bãi, giao nhận và dịch vụ liên quan khác đều có mức tăng trưởng khả quan.

Hiện có khoảng 4.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics, trong đó khoảng 70% tập trung ở TP HCM và các tỉnh lân cận. Các doanh nghiệp chia làm 3 nhóm chính: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Đáng chú ý, doanh nghiệp Việt Nam hiện đang nắm giữ nhiều cơ sở hạ tầng, tài sản phục vụ hoạt động logistics (trung tâm logistics, kho bãi, cảng biển…) nhưng hoạt động còn đơn lẻ, chủ yếu hoạt động trong nước, chỉ phục vụ ở từng phân khúc nhấn định, thiếu sự kết nối xuyên suốt để cung cấp dịch vụ logistics tích hợp. Rất ít doanh nghiệp logistics Việt Nam có hoạt động logistics ở nước ngoài.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu ở quy mô nhỏ. Có tới 50% số doanh nghiệp trong lĩnh vực logistics đăng ký ở loại hình Công ty TNHH một thành viên. So với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, doanh nghiệp đa quốc gia, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam rất khó thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng làm việc.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động logistics của doanh nghiệp hiện còn ở mức rất khiêm tốn, chủ yếu tập trung lĩnh vực khai báo hải quan và theo dõi, giám sát phương tiện.

5 bất cập nổi cộm

Sau 3 năm triển khai Quyết định 200/QĐ-TTg ngày 14/2/2017 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, ngành logistics nói chung và năng lực hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp ở Việt Nam nói riêng đã có những bước tiến đáng ghi nhận, tuy nhiên Bộ Công Thương đánh giá vẫn tồn tại một số bất cập.

Thứ nhất, chưa khai thác hết được lợi thế địa lý kinh tế và tiềm năng của mỗi địa phương. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động logistics cũng như sự kết nối giữa hạ tầng thương mại, hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ thông tin… cả trong nước và với khu vực còn chưa cao nên hiệu quả hoạt động logistics còn thấp.

Thứ hai, một số quy định còn chồng chéo, tồn tại những thủ tục hành chính và kiểm tra chuyên ngành chưa phù hợp. Một số chính sách chưa kip thời sửa đổi cho phù hợp với đặc thù của hoạt động logistics trong thực tiễn.

Thứ ba, theo Bộ Công Thương, chi phí dịch vụ còn cao vì nhiều nguyên nhân như hạn chế về quy mô doanh nghiệp và vốn, khả năng áp dụng công nghệ thông tin cũng như trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động, hạn chế về kết cấu hạ tầng logistics và chi phí vận tải trên đường bộ, phụ phí cảng biển do các chủ tàu nước ngoài áp đặt…

Thứ tư, công tác thống kê số liệu, đánh giá thực trạng phát triển logistics còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Số liệu thống kê là cơ sở quan trọng để có những nghiên cứu, đánh giá chính xác về thực trạng và đưa ra những đề xuất cơ chế, chính sách. Tuy nhiên hiện nay, việc thống kê số liệu và đánh giá tình hình phát triển logistics còn gặp nhiều khó khăn, chưa có sự đồng bộ, thống nhất.

Thứ năm, Bộ Công Thương chỉ ra, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về logistics còn hạn chế cả về nhân lực và trình độ. Nhiều cán bộ chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, hoạt động theo phương thức kiêm nhiệm nên gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý.

Biên chế nhà nước bố trí cho công tác quản lý về logistics còn hạn chế, thiếu hụt dẫn đến thường xuyên trong trình trạng quá tải, ảnh hưởng đến chất lượng công việc được giao.

Để phát triển dịch vụ logistics đạt hiệu quả cao, trong thời gian tới, Bộ Công Thương cho rằng các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cắt bỏ hoặc đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến logistics, đặc biệt là thủ tục kiểm tra chuyên ngành…

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại và phát triển thị trường cho logistics, tạo điều kiện để doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam nhanh chóng vươn lên, bắt kịp trình độ phát triển của thế giới; hỗ trợ hình thành một số doanh nghiệp logistics đầu đàn để định hướng dẫn dắt thị trường.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực logistics cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ quản lý doanh nghiệp có kinh nghiệm và chuyên môn cao đáp ứng được yêu cầu trong thời đại mới… cũng là một trong những giải pháp quan trọng được Bộ Công Thương đề cập tới.

Đức Phong

Chi tiết

15% doanh nghiệp logistics ước tính doanh thu giảm 50% trước đại dịch Covid-19

(Tổ Quốc) – Nhiều cảng biển của Việt Nam cũng có mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào nguồn hàng xuất nhập khẩu có liên quan tới thị trường Trung Quốc, Hong Kong, do đây là khu vực cảng trung chuyển lớn nhất của thế giới.

COVID-19 đã khiến các hoạt động vận tải hàng hóa của Việt Nam bị suy giảm. Khối lượng hàng hóa vận tải và luân chuyển hàng hóa theo các ngành vận tải tính chung 2 tháng 2020 đã chậm lại đáng kể so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, vận tải hàng hóa đạt 297,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,7%) và luân chuyển 56,6 tỷ tấn/km, tăng 4,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 6,4%).

15% doanh nghiệp logistics ước tính doanh thu giảm 50% trước đại dịch Covid-19 - Ảnh 1.

Hoạt động vận tải suy giảm khi nhà máy Trung Quốc ngưng hoạt động

Ghi nhận bởi Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), để đánh giá các tác động của dịch COVID-19 lên tình hình hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp logistics, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) vừa tiến hành khảo sát các doanh nghiệp này. Theo đó, khoảng 15% doanh nghiệp ước tính doanh thu giảm 50% so với năm 2019; hơn 50% doanh nghiệp ước tính số lượng dịch vụ logistics (trong nước và quốc tế) giảm từ 10-30% so với năm 2019.

Theo VLA, hoạt động vận tải hàng hóa sẽ bị ảnh hưởng bởi sự suy giảm trong luân chuyển hàng hóa do nhiều nhà máy tại Trung Quốc tạm ngưng hoạt động. Kể từ khi dịch bệnh bùng phát, hoạt động sản xuất tại Trung Quốc trở nên đình trệ, dẫn đến việc sản lượng hàng hóa xuất khẩu duy trì ở mức thấp. Qua đó, nhiều hãng tàu quốc tế đã phải bỏ chuyến ở một vài cảng của Trung Quốc do lượng hàng thấp. Một số mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc chịu tác động kép từ những yếu tố trên này, ví dụ như vải, sơ, sợi, sắt thép, đã phải chứng kiến sự sụt giảm sâu về giá trị trong hai tháng đầu năm 2020.

Trong khi đó, các mặt hàng thường được vận tải bằng đường hàng không như điện thoại, máy vi tính, máy móc thiết bị có mức giảm thấp hơn do các chuyến bay chuyên dụng chở hàng hóa vẫn được hoạt động bình thường. Tổng cộng, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc đã giảm 7% trong hai tháng đầu năm 2020. Ngoài ra, do đa phần đây là những nguyên liệu được nhập khẩu về để gia công phục vụ xuất khẩu, nên nếu tình hình dịch bệnh kéo dài thì sản lượng xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường khác cũng bị ảnh hưởng theo, gián tiếp tác động tới các nhu cầu về logistics.

15% doanh nghiệp logistics ước tính doanh thu giảm 50% trước đại dịch Covid-19 - Ảnh 2.

Vận tải biển, khai thác cảng biển sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề trong ngắn hạn

Đội tàu biển của Việt Nam chủ yếu hoạt động trên các tuyến ngắn trong khu vực Đông Nam Á, Đông Bắc Á, trong đó sản lượng và doanh thu liên quan đến thị trường Trung Quốc chiếm tỷ trọng đáng kể. Do đo, doanh thu của các doanh nghiệp vận tải biển nhiều khả năng sẽ sụt giảm trong quý 1/2020 khi mà sản lượng vận tải dự báo sẽ giảm mạnh.

Tương tự như vận tải biển, nhiều cảng biển của Việt Nam cũng có mức độ phụ thuộc tương đối lớn vào nguồn hàng xuất nhập khẩu có liên quan tới thị trường Trung Quốc, Hong Kong, do đây là khu vực cảng trung chuyển lớn nhất của thế giới.

Ví dụ như tại Hải Phòng, VDSC ước tính số chuyến tàu đến từ hai thị trường nói trên ra/vào các cảng ở đây chiếm khoảng 40-45% tổng số lượt tàu quốc tế. Với việc khai thác cảng và các nhà máy tại Trung Quốc hoạt động đình trệ do thiếu công nhân, cùng với thời gian bốc dỡ hàng lâu hơn do các tàu phải chịu sự kiểm tra gắt gao từ phía Trung Quốc, các hãng tàu lớn trên thế giới đều đã phải cắt giảm sản lượng do phải loại bỏ các cảng của Trung Quốc trong hành trình, dẫn tới giảm sản lượng bốc xếp tại các cảng của Việt Nam. Trong đó, VDSC ước tính sản lượng container qua các cảng Hải Phòng có thể bị giảm 10-15% trong 2 tháng đầu năm.

Bảo An

Chi tiết

Cảng Quốc tế Long An chung sức cùng đối tác khách hàng vượt qua khó khăn mùa dịch COVID-19

Hiện nay diễn biến ngày càng phức tạp của COVID-19 đã tạo ra muôn vàn khó khăn thách thức cho doanh nghiệp khi mà các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, tình trạnh ùn ứ hàng hóa diễn ra thường xuyên dẫn đến việc sụt giảm về doanh số và gia tăng chi phí hoạt động.

Thấu hiểu vấn đề, nhằm chung tay san sẻ khó khăn cùng đối tác và khách hàng, Cảng Quốc tế Long An quyết định giảm 20% chi phí thuê kho từ ngày 15/03/2020 đến hết ngày 15/06/2020.

Ban lãnh đạo và toàn thể CBCNV Cảng Quốc tế Long An cam kết cố gắng hết sức mình để mang đến những dịch vụ chất lượng tốt nhất cho khách hàng, đúng với những giá trị cốt lõi mà công ty đề ra.

Mọi chi tiết về chương trình này xin vui lòng liên hệ: Mr. Huỳnh Đức Thịnh – 0908435665 – Chuyên viên kinh doanh Cảng Quốc tế Long An.

 

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác !

Mọi thông tin, xin vui lòng liên hệ:

Cảng Quốc Tế Long An

Địa chỉ: Ấp Tân Hòa, Xã Tân Tập, Huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An

VP Kinh doanh: Tầng 9, Tòa nhà 117-119 Nguyễn Văn Trỗi, P12, Q. Phú Nhuận, Tp. HCM

Tel: 028 3997 2979     Fax: 028 3997 2909

Hotline: 1900 7068

www.longanport.com

Email: marketing@longanport.com

Chi tiết

Doanh nghiệp logistics Việt ảnh hưởng thế nào từ dịch Covid-19?

Khoảng 15% doanh nghiệp (DN) giảm 50% doanh thu so với năm 2019 và hơn 50% giảm số lượng dịch vụ logistics trong nước và quốc tế từ 10% – 30%.
Nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của dịch Covid-19 đối với hoạt động của DN ngành logistics, vừa qua, Hiệp hội DN dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) đã tiến hành khảo sát, lấy ý kiến của các DN về những khó khăn, thiệt hại mà DN đang gặp phải. Theo đó, hầu hết các DN được khảo sát đều đang bị ảnh hưởng khá nặng nề, doanh thu trung bình giảm từ 10% – 30% so với cùng kỳ năm 2019…
Covid-19, Doanh nghiệp khó tránh khỏi thiệt hại
Theo báo cáo của VLA, có khoảng 15% DN bị giảm 50% doanh thu so với năm 2019 và hơn 50% DN giảm số lượng dịch vụ logistics trong nước và quốc tế từ 10% – 30% so với cùng kỳ năm ngoái.Dịch bệnh Covid-19 đã có tác động ở tất cả các mặt từ y tế, giao thông, du lịch, giáo dục, thương mại… Đối với lĩnh vực thương mại, Việt Nam không chỉ bị ảnh hưởng trong quan hệ thương mại trực tiếp với Trung Quốc mà cả trên các thị trường thứ ba, từ xuất khẩu, nhập khẩu, thương mại biên giới cho đến thương mại nội địa, sản xuất công nghiệp, quản lý chuỗi cung ứng.Theo đánh giá của VLA, do nhiều nhà máy phải tạm ngưng hoạt động nên lượng hàng hóa cần lưu chuyển ít đi dẫn đến việc vận chuyển và giao nhận hàng hóa trong chuỗi cung ứng cũng giảm, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải logistics. Bên cạnh đó, DN cũng bị giảm nguồn thu đáng kể đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu từ các nước có dịch như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore,…

Ngoài ra, trong tình hình dịch bệnh như hiện nay các DN thiếu hụt nguồn nguyên liệu để sản xuất và khó tìm đầu ra cho sản phẩm tại vực châu Á và một số khu vực khác, gây ra tình trạng sản xuất dư thừa, không xuất khẩu được.

Các hoạt động logistics như vận tải giảm do dịch vụ thông quan bị cản trở, dịch vụ kho bãi, cước cũng bị ảnh hưởng nặng. Cửa khẩu Trung Quốc vốn đã thường xuyên bị quá tải, nay do ảnh hưởng dịch nên phát sinh lưu xe, việc xuất nhập khẩu ở các cửa khẩu trở nên phức tạp và mất thời gian hơn. Từ đó, dẫn đến tình trạng hàng hóa dễ hư hỏng bị giảm chất lượng, lái xe không muốn bị rắc rối, chậm trễ nên thường từ chối vận chuyển, ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng. Một số vấn đề phát sinh khác như một số khách hàng Trung Quốc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến mất khả năng trả nợ cho chủ hàng, nhà cung cấp Việt Nam kéo theo việc chủ hàng chậm thanh toán cho DN logistics.

DN logistics gặp khó từ các hãng tàu và hãng hàng không

Hãng tàu

Các tuyến chủ yếu là từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, các hãng tàu như ONE, HMM và một số hãng tàu khác đều giảm tàu nối tất cả các tuyến, ảnh hưởng đến lịch xuất hàng và chất lượng dịch vụ. Hầu hết hàng nhập trên các tuyến về Việt Nam giảm mạnh, một số thị trường khác bị kiểm dịch gắt gao. Các thủ tục vận hành từ thị trường khu vực châu Á và một số khu vực khác chậm trễ hơn so với bình thường.

Giảm chuyến do sản lượng luân chuyển chung giảm, nên việc vận chuyển trở nên thất thường khi lịch thường xuyên thay đổi không thông báo trước và ảnh hưởng tới kế hoạch kinh doanh của khách hàng, gây mất uy tín cho công ty cung cấp dịch vụ, làm tăng thời gian xử lý các vấn đề phát sinh cũng như gây căng thẳng áp lực cho nhân sự khi xử lý các vấn đề trên.

Hãng hàng không

Theo khảo sát của VLA, các hãng hàng không hiện nay đều hủy các tuyến bay tới Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, CZ-DLC cắt giảm tuyến, SNG-HKG, hạn chế tối đa các chuyến bay từ vùng dịch. Ngoài ra, giá cước vận chuyển hàng hóa tăng cao hơn so với bình thường.

Vận tải đường bộ

Hiện nay, các tuyến biên giới đều khó để kiếm được nhà cung cấp vận chuyển. Lượng hàng giảm dẫn đến nhu cầu về vận tải đường bộ giảm khoảng 30%.

VLA đề xuất, kiến nghị hỗ trợ doanh nghiệp logistics

Trước những diễn biến phức tạp như hiện nay, VLA đã tổng hợp và đưa ra một số các kiến nghị, đề xuất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp logistics, cũng như duy trì phát triển nền kinh tế – xã hội. Cụ thể như giãn, hoãn, đề xuất miễn, giảm có thời hạn các khoản thuế và phí phải nộp của DN ở những ngành, lĩnh vực chịu nhiều ảnh hưởng (thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, phí BHXN).

Để giải quyết những vấn đề trước mắt

Bên cạnh đó, VLA cũng đề xuất Chính phủ cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho doanh nghiệp về tình hình diễn biến dịch bệnh và kịch bản kinh tế của Chính phủ; Cung cấp khẩu trang chống dịch cho doanh nghiệp nếu diễn biến tình hình dịch bệnh phức tạp hơn. Ngoài ra, Chính phủ nên làm việc với các hãng vận tải, hãng tàu nhằm giảm giá dịch vụ vận chuyển hàng hóa, giảm phí dịch vụ tại cảng để giảm chi phí lưu thông hàng hóa, góp phần hỗ trợ DN sản xuất và DN Logistics. Kiểm soát được giá, không tăng giá quá cao, đặc biệt là phí LSS, LSS tăng theo quý, nhưng hiện tại hãng tàu đang tăng theo tháng.

Các cơ quan liên quan triển khai công tác đảm bảo chống dịch ở các cửa khẩu đường bộ, cảng biển theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Phối hợp với các tỉnh biên giới phía Bắc bố trí lực lượng chức năng phân luồng, phân tuyến tại đường bộ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa phương tiện được lưu thông thông tốt nhất.

Nhằm hỗ trợ DN, VLA cũng đề nghị giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho năm 2020, Khoản thuế giảm này xem như một phần để hỗ trợ DN vượt qua khó khăn kinh doanh năm 2020. Giãn hoãn và giảm các khoản đóng góp Quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm y tế từ các DN bị ảnh hưởng.

Ngân hàng Nhà nước cần xem xét giảm lãi suất cơ bản. Các ngân hàng thương mại cần khoanh nợ, giãn nợ, giảm lãi suất cho vay, mở rộng hạn mức cho vay, cơ cấu lại các khoản vay đối với các DN trong các lĩnh vực bị tác động mạnh từ dịch Covid-19 như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu nông sản, vận tải, dệt may, giày dép…

Đối với các DN kho lạnh, kho mát cần được ưu đãi về giá điện dùng (hiện nay giá cao hơn giá điện sản xuất từ 25%-30%). Ưu đãi thuế (như giảm thuế, không phạt chậm nộp thuế…) cho các chuỗi nhà hàng, khách sạn, cung ứng thực phẩm. Giãn tiến độ nộp, giảm tiền thuê đất và mặt bằng sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ dịch.

Trong trường hợp dịch bệnh kéo dài

Nếu tình hình dịch bệnh còn kéo dài, Chính phủ có thể xem xét đẩy mạnh đầu tư công cho toàn bộ nền kinh tế, và nói riêng là đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị cho ngành Hải quan, giảm thiểu việc thao tác thủ công. Nâng cao năng lực cho các cụm cảng hàng không, cảng biển và các bãi chuyển tải tại các cửa khẩu biên giới.

Thống nhất danh mục hàng hóa, mã HS cho phù hợp với các nước khác nhất là khối EU. Việc này giúp cho các DN tránh được việc lúng túng khi áp mã thuế và cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát được việc kê khai thống nhất .

Có cơ chế, tạo điều kiện thông thoáng hơn nữa cho thủ tục XNK phù hợp với điều kiện thực tế cho từng thời kỳ ngắn hạn và dài hạn, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Hỗ trợ các nhà máy đẩy nhanh được lưu thông quan hàng hóa nhằm tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và xã hội.

Tăng tiến độ và thời gian cấp giấy phép chuyên ngành, giảm bớt thời gian thông quan và kiểm hóa tại cảng để giải phóng hàng tránh phí lưu kho bãi.

Chính phủ rà soát các loại thuế, phí, có các giải pháp hỗ trợ giảm chi phí vận tải như giảm giá BOT, phí cầu đường, bến bãi, phí lưu giữ Phương tiện, thuế với nhiên liệu bay…

Tạo điều kiện cho DN trong vấn đề cấp CO để doanh nghiệp đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế khi xuất khẩu sang thị trường EU và Ấn độ theo hiệp định EVFTA. Xem xét và duyệt cho nợ C/O sau 30 ngày vì tình trạng dịch bệnh tại Trung Quốc.

Chính phủ hỗ trợ DN thông qua kênh xúc tiến thương mại. Tăng cường thương mại điện tử, sàn giao dịch online, thanh toán online.

Vận tải hàng hóa đường bộ, đường sắt, Việt Nam hiện nay kết nối với Trung Quốc rất lớn, do đó đề xuất Chính phủ chỉ đạo, tập trung tăng cường khai thác nội địa, đồng thời mở rộng kết nối với các nước còn lại trong khu vực ASEAN qua Thái Lan để giúp vận tải đường bộ có thể bù đắp phần thiếu hụt từ việc hạn chế vận chuyển hàng hóa qua Trung Quốc trong thời gian diễn ra dịch bệnh.

Chi tiết

TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA CẢNG QUỐC TẾ LONG AN

Cảng Quốc Tế Long An được xây dựng trên diện tích 147 ha, khởi công từ năm 2017 và dự kiến hoàn thành vào năm 2023. Với hình thức xây dựng và hoạt động cuốn chiếu, đến nay cảng Quốc Tế Long An đã hoàn thành 3 cầu cảng và đón gần 1.000 con tàu trong và ngoài nước ra, vào cảng.

Theo Quochoitv.vn

Chi tiết

Cơ hội cho cảng biển Việt Nam từ tác động của dịch Covid-19

(VLR) Dịch Covid-19 có thể tác động các nhà sản xuất dịch chuyển chuỗi cung ứng, cảng biển Việt Nam sẽ đón thêm cơ hội tăng trưởng từ sự thay đổi này.

Ảnh minh họa.

Tìm hiểu của PV Báo Giao thông, dịch Covid-19 kéo dài hơn 1 tháng qua đã khiến hàng loạt doanh nghiệp cảng biển “tuột tay” hàng trăm nghìn tấn sản lượng hàng hóa thông qua.

Theo đại diện Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines), hàng năm, sản lượng hàng thông qua các cảng của Vinalines khoảng trên 100 triệu tấn, trong đó lượng hàng từ Trung Quốc, Đài Loan chiếm khoảng 35 – 40% tổng sản lượng.

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, hầu hết các hãng tàu lớn đều phải cắt giảm chuyến ghé qua các cảng của Trung Quốc khiến sản lượng bốc xếp tại cảng biển giảm khoảng 30 – 40%.

Tại miền Trung, ông Phan Tuấn Linh, TGĐ Công ty CP Cảng Quy Nhơn – một trong những đơn vị cảng có nhiều tuyến vận tải hàng hóa đi Trung Quốc cho biết, DN này cũng như “ngồi trên đống lửa” khi hầu hết các tuyến vận tải chở hàng gỗ dăm từ Bình Định đến các cảng phía Nam Trung Quốc đều bị giảm 10 – 15% sản lượng hàng hóa chuyên chở, kéo theo sản lượng hàng hóa thông qua cảng bị kéo giảm với tỷ lệ tương đương.

Mặc dù tác động của dịch Covid-19 vào khối cảng biển Việt Nam là không nhỏ, song, nhìn ở khía cạnh tích cực hơn, ông Nguyễn Xuân Kỳ, Phó TGĐ Công ty TNHH Cảng quốc tế Cái Mép (CMIT) cho rằng, khó khăn hiện tại chỉ là ngắn hạn.

“Về lâu dài, đợt dịch này sẽ là bước ngoặt để các DN trên thế giới thấy được phụ thuộc khi đặt quá nhiều chuỗi cung ứng ở Trung Quốc. Từ đó, làn sóng đầu tư chuỗi cung ứng của các nhà sản xuất ra các quốc gia khác như Việt Nam sẽ được thực hiện với tốc độ nhanh hơn. Điều này đồng nghĩa, lượng hàng xuất nhập khẩu qua cảng biển Việt Nam sẽ có cơ hội tăng trưởng mạnh hơn”, ông Kỳ nói.

Ở một diễn biến khác, theo đại diện Hiệp hội DN dịch vụ logistics VN, cơ hội cho cảng biển Việt Nam còn đến từ sự kiện Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) đã chính thức được Nghị viện châu Âu phê chuẩn vào đầu tháng 2 vừa qua.

“Theo nghiên cứu, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; hơn 42% vào năm 2025 và hơn 44% vào năm 2030. Hàng hóa XNK tăng đồng nghĩa hoạt động vận tải cũng tăng lên, các cảng nước sâu như Cái Mép – Thị Vải, Lạch Huyện sẽ được hưởng lợi khi quá trình vận chuyển hàng hóa tới thị trường châu Âu đều dùng tàu mẹ”, đại diện này cho hay.

Theo Báo Giao thông
Chi tiết
nhi-trn-long-an-international-port