Số 68 Đường Tỉnh 830, Ấp Vĩnh Hòa, Xã Tân Tập, Huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An

Truyền thông

Nguy cơ gián đoạn vận tải đường biển tại Trung Quốc

Điều này sẽ khiến cho tình trạng thiếu hàng hóa, đứt gãy nguồn cung trên thế giới càng thêm trầm trọng.

Chỉ hơn 2 tuần nữa là Trung Quốc bước vào kỳ nghỉ Tết Âm lịch kéo dài. Nước này hiện nay cũng đang duy trì các biện pháp phòng ngừa dịch nghiêm ngặt để phục vụ các sự kiện lớn của đất nước. Do đó, không chỉ vận tải đường bộ biên giới mà vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển với nước này cũng có nguy cơ gián đoạn.

Do quy định xem cảng biển là khu vực nguy cơ cao nên nhân viên hải quan – những người phục vụ muốn về quê đón Tết phải cách ly 2 – 3 tuần nên nhiều lao động xin nghỉ sớm, nhất là tại các cảng trung chuyển nhỏ.

Trung Quốc quy định thủy thủ tàu cập cảng bị cách ly tập trung, giám sát ở nhà 7 tuần. Việc thiếu thủy thủ cộng thêm thiếu container rỗng để vận chuyển hàng cũng khiến cho vận chuyển hàng hóa bằng đường biển dịp Tết thêm căng thẳng. Đó là chưa kể giá vận tải tăng 2-3 lần trong nhiều tuyến đi Mỹ, châu Âu.

Với chính sách “Zero COVID” mỗi khi có 1 ca dương tính thì việc phong tỏa, truy vết, xét nghiệm đại trà diễn ra căng thẳng.

Trung Quốc là nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới, giữ vai trò quan trọng trong cung cấp phương tiện chuyên chở, container nên trước mắt khó có nước nào thay thế được vai trò này.

Trong một cuộc khảo gần đây với gần 150 doanh nghiệp vào cuối năm 2021, hơn 2/3 số doanh nghiệp nhận định cuộc khủng hoảng chuỗi cung ứng có thể sẽ tiếp tục tồi tệ.

Để khắc phục gián đoạn vận tải đường biển, Trung Quốc đang tăng mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa bằng đường sắt qua những tuyến đường sắt liên vận từ Trung Quốc đi châu Á và châu Âu. Giải pháp tình thế này cũng đang tỏ ra hiệu quả khi mà giá cước tàu biển chưa có dấu hiệu giảm.

Theo https://vtv.vn/

Chi tiết

Hiện thực hóa khát vọng trung tâm logistics khu vực và toàn cầu

(Chinhphu.vn) – Việt Nam có đủ tiềm năng trở thành trung tâm logistics của khu vực và thế giới. Chỉ cần tạo dựng được môi trường, chúng ta có thể biến giấc mơ trở thành hiện thực.

Việt Nam có đủ tiềm năng trở thành trung tâm logistics của khu vực và thế giới

Những triển vọng

Mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có các cuộc làm việc tại Bà Rịa-Vũng Tàu và Hải Phòng, với các định hướng chiến lược lớn trong phát triển hệ thống cảng biển, hạ tầng logistics… tại các khu vực này và của quốc gia.

Thời gian qua, do tác động của dịch bệnh, hoạt động vận tải giao thông trên toàn cầu bị ảnh hưởng, chi phí logistics bị đẩy lên, ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước. Với sự phát triển của nền kinh tế và trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, tham gia 17 FTA, nhu cầu vận tải hàng hóa ngày càng lớn.

Do đó, việc phát triển hạ tầng giao thông vận tải nói chung và đường biển nói riêng là yêu cầu cấp bách để giải phóng, huy động mọi nguồn lực cho phát triển, bảo đảm duy trì chuỗi cung ứng, lưu thông hàng hóa, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế nhanh, bền vững.

Logistics được ví như những “mạch máu” của nền kinh tế quốc dân, không chỉ đem lại nguồn lợi to lớn đối với quốc gia, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng và bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế bền vững thời kỳ hội nhập. Logistics Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, tham gia ngày càng sâu rộng vào mọi mặt của nền kinh tế-xã hội.

Theo Báo cáo “Đánh giá cạnh tranh của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): Ngành logistics tại Việt Nam” năm 2019, ngành logistics của Việt Nam đạt tốc độ phát triển bình quân 12-14%/năm, đóng góp vào GDP từ 4-5% và bình quân 10 nước ASEAN, ngành logistics đóng góp vào GDP trung bình 5% ở các nước thành viên ASEAN, thu nhận 5% việc làm trong ASEAN, tỉ lệ thuê ngoài khoảng 60-70%, chi phí logistic tương đương 16,8% GDP.

Đánh giá về vị trí của ngành logistics Việt Nam trên bản đồ thế giới, ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), cho biết, Chỉ số năng lực hoạt động logistics (LPI) của Việt Nam được WB xếp thứ 39/160 nước vào năm 2018, tăng 25 bậc so với 2016, thứ 3 trong các nước ASEAN và đứng đầu trong các thị trường mới nổi.

Tại Đông Nam Á, năng lực của ngành logistics Việt Nam chỉ đứng sau Singapore và Thái Lan. Điều này chứng tỏ sự tiến bộ của ngành logistics Việt Nam.

“Với lợi thế nằm ở trung tâm khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trên tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam có đủ tiềm năng trở thành trung tâm trung chuyển lớn của khu vực và thế giới”, Chủ tịch VLA nhận định.

Để tạo nên sự đột phá, biến giấc mơ này thành hiện thực, Chủ tịch VLA cho rằng còn rất nhiều việc phải làm, như tập trung phát triển kết cấu hạ tầng logistics, đẩy mạnh đào tạo và phát triển nguồn nhân lực logistics… Phát triển các trung tâm logistics có trình độ tự động hóa, hiện đại hóa lớn, không thua kém các nước trong khu vực là một nhiệm vụ quan trọng. Muốn vậy, cần có sự tham gia của Nhà nước, để khơi thông những điểm nghẽn liên quan tới quỹ đất.

“Nhiều địa phương hiện nay chưa chú ý hoặc ít dành quỹ đất cho trung tâm logistics, đa số doanh nghiệp phải tự thân vận động. Do vậy, cần có sự đồng bộ trong quy hoạch của tất cả các địa phương để dành quỹ đất cho trung tâm logistics. Các trung tâm logistics đòi hỏi quy mô lớn, tích hợp nhiều dịch vụ, kết nối đa phương thức thì mới góp phần giảm được chi phí logistics”, ông Lê Duy Hiệp nhận xét.

Cùng chia sẻ quan điểm, GS.TS. Đặng Đình Đào, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên cứu kinh tế và phát triển (Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, Việt Nam có tiềm năng vận tải biển rất lớn, lợi thế bờ biển dài. Riêng vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trải dọc theo bờ biển dài 609 km, có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh đối với cả khu vực duyên hải miền Trung.

Việt Nam sở hữu hệ thống cảng biển quan trọng như Chân Mây, Tiên Sa, Kỳ Hà, Dung Quất, Quy Nhơn… cùng hệ thống sân bay quốc tế, đường sắt xuyên quốc gia, đường bộ gắn với nhiều hành lang kinh tế trong vùng.

“Giấc mơ Việt Nam trở thành một trung tâm logistics của khu vực là trong tầm tay. Quan trọng là phải tạo dựng được môi trường để giấc mơ đó trở thành hiện thực. Môi trường logistics bao gồm các yếu tố thể chế pháp luật logistics, cơ sở hạ tầng logistics, phát triển hệ thống các doanh nghiệp logistics có sức cạnh tranh cao và hệ thống các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics… Việc này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, các địa phương”, GS.TS. Đặng Đình Đào nhấn mạnh.

Thay đổi nhận thức về trung tâm logistics

Theo báo cáo sơ bộ của 45/63 tỉnh, thành phố, cả nước có tổng số 69 trung tâm logistics có quy mô lớn và vừa, phân bổ tập trung ở một số khu công nghiệp. Các trung tâm logistics hạng I, hạng II, các trung tâm logistics chuyên dụng theo quy hoạch tại Quyết định số 1012/QĐ-TTg ngày 3/7/2015 của Thủ tướng Chính phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến 2020, định hướng đến năm 2030 đang được các tỉnh, thành phố tập trung triển khai, kêu gọi đầu tư xây dựng (Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Đắk Nông, Tây Ninh, Sóc Trăng, TPHCM, Cần Thơ).

Năm 2020 tiếp tục có sự chuyển đổi từ trung tâm logistics truyền thống sang trung tâm logistics thế hệ mới, áp dụng công nghệ 4.0.

Dù vậy, theo ông Lê Duy Hiệp, Việt Nam vẫn rất thiếu các trung tâm logistics hiện đại, quy mô lớn. Việt Nam là nước nông nghiệp, xuất khẩu trái cây, thủy sản nhiều, do đó, rất cần có các trung tâm logistics để sơ chế, chế biến, bảo quản nhằm giảm thiểu hư hỏng, bảo đảm điều kiện để xuất khẩu.

Cùng quan điểm, GS.TS. Đặng Đình Đào cho rằng, cần thay đổi nhận thức về trung tâm logistics, xác định đó vừa là mô hình kinh doanh mới vừa là mô hình kết nối.

“Không phải Việt Nam đầu tư từ A đến Z rồi cho nhà đầu tư vào kinh doanh, mà phải tạo môi trường, làm mặt bằng sạch, có cơ chế pháp lý rõ ràng rồi lựa chọn nhà đầu tư vào. Theo đó, sẽ có nhà đầu tư đầu tư vào cảng, người đầu tư vào kho, người đầu tư vào chế biến, người làm cảng cạn… từ đó hình thành nên một tổ hợp kinh doanh logistics trong trung tâm”, vị chuyên gia mô tả.

Ông đặc biệt lưu ý, cần xây dựng các trung tâm logistics sau cảng có quy mô đủ lớn để giải phóng nhanh tàu, tránh ùn tắc, sử dụng phương tiện vận tải thân thiện với môi trường, chống ô nhiễm môi trường,tránh tình trạng thu hút đầu tư phát triển cảng theo kiểu “phân lô, chia nền”, hay nhà đầu tư nào vào địa phương đều mở “cảng của riêng mình”. Các trung tâm logistics đó phải được kết nối với các phương tiện vận tải theo hướng đa phương thức và với cảng biển bằng hệ thống đường sắt hiện đại theo mô hình cảng biển – đường sắt – các trung tâm logistics – đường ô tô – khách hàng.

Hiện Việt Nam có cảng Cái Mép (Phú Mỹ, Bà Rịa-Vũng Tàu) có khả năng tiếp nhận tàu container trọng tải lớn nhất lên đến 214.000 tấn, tiếp đó là cảng Hải Phòng với tàu container trọng tải 132.000 tấn. Cuối tháng 12/2020, tàu container lớn nhất thế giới với trọng tải hơn 214.000 tấn, sức chở hơn 18.300 container, dài gần 400 m, rộng 59 m đã cập cảng Cái Mép, đưa cảng Cái Mép trở thành một trong 20 cảng lớn trên thế giới có đủ năng lực tiếp nhận tàu kích cỡ này.

Năng lực đón tàu trọng tải lớn nhất thế giới đến hơn 214.000 tấn khẳng định hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ được xếp lên các tàu mẹ kích cỡ lớn, đi thẳng đến các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ mà không cần trung chuyển qua các cảng của Singapore, Malaysia… giúp tiết kiệm chi phí, giảm thời gian chuyên chở, đưa hàng hóa sớm tiếp cận thị trường.

Bên cạnh đó, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển cũng đề nghị cần sớm đưa vào vận hành các trung tâm logistics trên các hành lang kinh tế, đặc biệt ưu tiên các hành lang kinh tế Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, các hành lang kinh tế qua các cửa khẩu quốc tế với Trung Quốc, Lào, Campuchia…

Tiếp đó là xây dựng các khu công nghiệp logistics, cụm logistics để kết nối các địa phương nhằm thực hiện liên kết kinh tế, khai thác hiệu quả các tuyến hành lang kinh tế trên địa bàn, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy mạnh thu hút đầu tư logistics, gia công chế biến sâu sản phẩm để gia tăng giá trị hàng hóa, xuất nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm cho các địa phương.

Khu công nghiệp logistics cần được xây dựng tại các trung tâm kinh tế, các điểm kết nối các loại phương tiện vận tải mà địa phương, vùng đang sở hữu, như đường bộ, đường sắt, đường thủy, cảng biển, đường hàng không… và phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, xây dựng với quy mô, như các khu công nghiệp hiện nay để thu hút các tập đoàn logistics của khu vực, thế giới, các doanh nghiệp logistics trong nước vào đầu tư, kinh doanh.

“Có các trung tâm logistics sẽ giảm tải cho cửa khẩu. Các trung tâm logistics này không chỉ có kho mát, kho lạnh để bảo quản, sơ chế nông sản trước khi xuất khẩu mà còn là địa điểm kiểm tra, thông quan hàng hóa. Việt Nam hướng đến trở thành trung tâm sản xuất lớn của thế giới nên logistics phải là lĩnh vực lớn cần đầu tư”, GS.TS. Đặng Đình Đào nhấn mạnh.

Theo http://baochinhphu.vn/

Chi tiết

Liên kết để tiếp sức phát triển ngành logistics trong năm 2022

Bên cạnh yếu tố thiếu hụt về nguồn cung và lao động vận tải toàn cầu nói chung, chi phí vận tải biển vẫn tiếp tục tăng cao, tăng kỷ lục và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do đại dịch COVID-19, nhưng các doanh nghiệp logistics Việt Nam vẫn trụ vững, góp phần duy trì và ổn định chuỗi cung ứng, đảm bảo cho nền kinh tế đất nước vẫn tăng trưởng dương.

Năm 2022 được dự báo sẽ tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức đối với ngành logistics, đòi hỏi các doanh nghiệp logistics Việt Nam phải nỗ lực nhiều hơn nữa, tăng cường liên kết nội khối mới có thể tiếp tục vượt qua được thách thức.

Nỗ lực vượt khó

Theo ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), năm 2021, đại dịch COVID-19 tái bùng phát mạnh tại các nước, đặc biệt là tại châu Á, đã tạo ra những nút thắt mới đối với chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến chuỗi cung ứng bị đứt gãy, gián đoạn, kéo theo hoạt động logistics cũng bị gián đoạn.

Việc không thống nhất giữa các địa phương, cước vận tải biển tăng phi mã, thiếu hụt vỏ container rỗng,… đã tác động lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp logistics Việt Nam.

Đến thời điểm hiện tại, đại dịch lại có nguy cơ bùng phát trở lại do biến chủng mới, đe dọa, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu.

Bên cạnh yếu tố thiếu hụt về nguồn cung và lao động vận tải toàn cầu nói chung, chi phí vận tải biển vẫn tiếp tục tăng cao, tăng kỷ lục và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Theo thống kê của VLA, giá cước vận tải biển trung bình container loại 40 feet đã tăng gấp 5 lần so với năm ngoái và tăng gấp 6 lần so với 2 năm trước.

Mặc dù hiệp hội cùng các bộ ngành đã có những tác động nhất định, nhưng vẫn chưa thể bình ổn được giá cước.

Tuy nhiên, do đã có kinh nghiệm đối phó với dịch bệnh từ năm 2020, các doanh nghiệp logistics Việt Nam đã thích nghi và vẫn duy trì được chuỗi cung ứng.

Vận chuyển hàng hóa năm 2021 tăng 14,6% so với năm 2020 với nhiều sáng tạo như chuyển đổi máy bay chuyên chở hành khách sang chở hàng hóa; mở tuyến vận tải đường biển từ Việt Nam đến Ấn Độ; cùng nhiều giải pháp sáng tạo trong giao hàng chặng cuối, hỗ trợ người dân trong thời gian giãn cách…, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội. Đặc biệt, hoạt động xuất nhập khẩu năm 2021 ước đạt vượt 600 tỷ USD.

Ông Hiệp cho rằng sự kiện Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC) khai trương thành công tuyến vận tải biển đi Ấn Độ, cùng với sự tiến bộ không ngừng của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam trong vận chuyển container nội địa là cơ sở, bước đi vững chắc để có thể tiến đến chạy nội châu Á và các tuyến xa hơn, góp phần giúp Việt Nam chủ động trong hoạt động xuất nhập khẩu, kết nối quốc tế, giảm giá thành vận tải quốc tế và cũng là giảm chi phí logistics, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa và doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.

Ở góc độ chuyên gia tư vấn chính sách, bà Phạm Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ, cho rằng năm 2021 và ngay cả đầu năm 2022, logistics vẫn luôn là những câu chuyện nóng nhất. Điển hình như tình hình tắc nghẽn tại các chuỗi vận tải Á-Âu cũng như những tuyến khác xa hơn, và gần đây nhất là tình hình tắc nghẽn tại biên giới đường bộ Việt-Trung.

Bà Thủy chia sẻ trong tất cả các phát biểu của các hiệp hội ngành hàng trong các kỳ giao ban với Chính phủ, vấn đề được nhắc đến nhiều nhất vẫn là áp lực liên quan đến logistics, vận tải và giao thương.

Nhưng đáng mừng là Hiệp hội VLA cùng các doanh nghiệp logistics đã góp phần gánh vác, chia sẻ cùng các hiệp hội ngành hàng khác tìm ra các giải pháp để tối ưu hóa hoạt động logistics, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian; kiến nghị với nhà nước những vấn đề mang tính chiến lược, góp phần duy trì và ổn định chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh rất cam go do dịch bệnh gây ra.

Liên kết để đối đầu thử thách

Theo bà Phạm Ngọc Thủy, năm 2022, dự báo tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp bởi các biến thể mới. Chính quyền và thị trường có thể có các phản ứng nằm ngoài dự liệu và tầm với của doanh nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp logistics cần phải chủ động đối mặt để vượt qua.

Để làm được việc này, các doanh nghiệp logistics cần chủ động gắn kết, phối hợp tốt với nhau, tìm ra những lời giải ở góc độ chính sách và thực tiễn để tối ưu hóa mọi giải pháp trong phạm vi có thể.

Ban IV cam kết luôn đồng hành với Hiệp hội VLA và các doanh nghiệp logistics mang lại lợi thế cạnh tranh tốt nhất cho doanh nghiệp, hàng hóa và thị trường Việt Nam.

Dự báo xu hướng phát triển của ngành dịch vụ logistics trong tương lai gần, theo ông Nguyễn Thanh Bình, Tổng giám đốc Công ty cổ phần GEMADEPT, xu hướng thương mại điện tử, xu hướng tích hợp sẽ tiếp tục phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi mô hình logistics từ truyền thống sang logistics hiện đại.

Các công ty logistics lớn, đặc biệt là các hãng tàu, sẽ tích hợp các hoạt động trên biển, trên bộ, trên không thành một chủ thể đồng bộ. Với lợi thế về công nghệ, nền tảng kết nối (platform) hiện đại, họ sẽ có khả năng chiếm lĩnh thị phần lớn cả quốc tế lẫn nội địa.

Trong khi đó, từ 1-2 năm tới, dịch bệnh vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng bất lợi đến các chuỗi cung ứng và hoạt động logistics.

Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp logistics Việt Nam do đã có kinh nghiệm vượt qua năm 2020, 2021.

Các doanh nghiệp cần chủ động lựa chọn hướng đi và phương án đối phó phù hợp; đẩy mạnh chuyển đổi số; tăng cường liên kết, hợp tác với nhau; tính toán hợp tác với các công ty lớn để có thể thích ứng linh hoạt, tận dụng được lợi thế và cơ hội phát triển.

Nhận định về cơ hội đầu tư trong bối cảnh hiện nay và tương lai gần, từ 3-5 năm tới, ông Đặng Vũ Thành, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Kho vận miền Nam (SOTRANS), cho rằng các doanh nghiệp vẫn còn cơ hội khá tốt để đầu tư phát triển hạ tầng logistics ở Việt Nam. Do ngành dịch vụ logistics đang thiết lập một mặt bằng giá mới rất rõ ràng. Nếu đầu tư càng nhanh, càng có thể tạo dựng được lợi thế cạnh tranh trong tương lai.

Ông Thành lưu ý các doanh nghiệp có thể lấy kho làm nền tảng để xây dựng mang lưới nhân lực, công nghệ xoay quanh kho; nắm bắt dòng dịch chuyển của hàng hóa, nhân sự, công nghệ để nắm bắt được những vị trí tốt nhất, ít nhất phải đáp ứng được 2 điều kiện một là phải tiện lợi từ góc độ kết nối vùng miền và các cửa ngõ quốc gia. Bên cạnh đó, phải đủ quy mô để có thể tận dụng lợi thế giảm giá thành.

Dự báo về tình hình vận tải biển, bà Võ Phương Lan, Trưởng Ban Vận tải của VLA, nhận định các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và logistics Việt Nam sẽ phải tiếp tục đối mặt với khó khăn trong tháng Một và tháng Hai. Do giá cước vận tải biển đang tăng trở lại sau khi có chiều hướng giảm trong tháng 10 và tháng 11.

Cụ thể, giá cước đi bờ Đông nước Mỹ hiện đã tăng lên từ 21.000-22.000 USD. Số chỗ trống cho mức giá từ 17.000-18.000 USD hiện rất hiếm.

Giá cước đi bờ Tây nước Mỹ cũng đã tăng lên 19.000 USD và vẫn còn hơn 100 tàu đang xếp hàng ngoài khơi bờ Tây.

Trong khi đó, Mỹ vừa trải qua kỳ nghỉ Tết dương lịch dài. Tốc độ giỡ hàng rất chậm. Thời gian để tàu quay đầu từ Mỹ về phải mất khoảng 3 tháng. Mặc dù trên 65% tàu từ Mỹ về là chở container rỗng, nhưng số vỏ rỗng này sẽ bị ưu tiên giỡ trước khi tàu cập cảng Trung Quốc, Thái Lan, gây thiếu hụt vỏ rỗng khi về Việt Nam.

Hãng tàu SMC là hãng tàu lớn nhất thế giới nhưng hiện nay vẫn thiếu vỏ rỗng về Việt Nam, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh.

Do vậy, bà Lan khuyến nghị các doanh nghiệp logistics cần thông báo cho khách hàng đối tác chủ động có kế hoạch sản xuất, xuất nhập khẩu phù hợp.

Kiến nghị các giải pháp với Chính phủ nhằm tạo điều kiện thúc đẩy cho ngành logistics Việt Nam phát triển, ông Lê Duy Hiệp cho biết cần phát triển kết cấu hạ tầng logistics đồng bộ; phát triển các doanh nghiệp vận tải biển, vận tải hàng không mang thương hiệu Việt Nam; phát triển các doanh nghiệp logistics mũi nhọn trên lĩnh vực logistics tích hợp 3PL-4PL, logistics phục vụ thương mại điện tử, các trung tâm logistics tại thị trường nước ngoài…

Ngoài ra, để tăng cường sức mạnh cho Hiệp hội và ngành logistics Việt Nam, VLA sẽ tập trung phát triển hội viên tiềm năng; tăng cường các hoạt động kết nối, quảng bá cho hội viên; tăng cường hợp tác quốc tế; triển khai hiệu quả các gói hỗ trợ của Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số và Dự án xây dựng bộ Chỉ số logistics cấp tỉnh (LCI).

VLA ủng hộ việc thành lập và sẽ phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội logistics địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng để phát huy sức mạnh tổng hợp, ông Hiệp nhấn mạnh./.

Theo TTXVN/Vietnam+

Chi tiết

Thị trường logistics dự kiến tăng trưởng 7,25%

Thị trường logistics toàn cầu dự kiến tăng trưởng với tốc độ CAGR 7,25% trong giai đoạn 2022 – 2030, theo Market Research Future

Các chuyên gia đánh giá thị trường logistics toàn cầu đang phát triển bền bỉ nhờ thương mại quốc tế tăng trưởng. Bên cạnh đó, các giải pháp tiến bộ như quản lý an ninh kho bãi, quản lý thông tin và hàng tồn kho, đóng gói, xử lý vật liệu và vận chuyển… cũng thúc đẩy quy mô thị trường này.

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, nền kinh tế thế giới tăng trưởng cùng lối sống thay đổi của người tiêu dùng sẽ làm tăng giá trị thị trường hơn nữa. Ngoài ra, trước đó, những tiến bộ công nghệ trong lĩnh vực logistics và các sáng kiến của khu vực công – tư cũng đã thúc đẩy giá trị thị trường.

Thị trường logistics toàn cầu được dự báo tăng trưởng 7,25% trong giai đoạn 2022 - 2030. Ảnh: Flickr

Thị trường logistics toàn cầu được dự báo tăng trưởng 7,25% trong giai đoạn 2022 – 2030. Ảnh: Flickr

Hiện nay, khu vực châu Á – Thái Bình Dương “thống lĩnh” thị trường logistics toàn cầu, chiếm thị phần đáng kể. Các yếu tố như giao dịch tại thị trường khu vực và quốc tế đang gia tăng, áp dụng dịch vụ logistics thuê ngoài ngày càng nhiều đã thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, quy mô tăng trưởng còn do hoạt động xuất nhập khẩu tăng cao, nhu cầu logistic lớn và quá trình đô thị hóa.

Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và Indonesia là những quốc gia chiếm thị phần lớn trong thị trường logistics khu vực châu Á – Thái Bình Dương do dân số ngày càng tăng và cơ sở sản xuất lớn.

Bên cạnh tiềm năng tăng trưởng, nghiên cứu thị trường mới đây của Forto và FourKites cho thấy tính bền vững vẫn là ưu tiên hàng đầu đối với khách hàng. Cụ thể, 65% khách hàng chọn dịch vụ vận chuyển giảm phát thải CO2 trong quý 3 năm 2021, kết hợp các phương thức vận tải và trồng cây sử dụng năng lượng tái tạo.

CEO của FortoMichael Wax cho biết: “Chúng tôi xem đây là những chỉ số tích cực về sự thay đổi nhận thức của thị trường. Các chủ đề về tính bền vững đang được đưa lên hàng đầu trong các chương trình nghị sự của khách hàng”.

Trong khi đó, 39% chuyên gia chuỗi cung ứng tham gia khảo sát của FourKites hợp tác cùng Reuters đang có kế hoạch giảm lượng khí thải carbon trong quá trình vận chuyển của mình; 31% trong khảo sát cũng hướng tới điều này trong giai đoạn sản xuất và đóng gói. Ngoài ra, khoảng 40% cho biết họ đang tăng cường cam kết về tính bền vững, 44% khác chỉ đang giữ ổn định cho hoạt động logistics.

Theo Globe Newswire

Chi tiết

Năm kiến nghị khôi phục chuỗi cung ứng doanh nghiệp ngành logistics

Đại dịch Covid-19 được xem là phép thử với doanh nghiệp ngành logistics, chuyên gia đề xuất 5 kiến nghị hỗ trợ doanh nghiệp logistics vượt khó khăn, nắm bắt cơ hội chuyển đổi, phục hồi chuỗi cung ứng.

Tại Diễn đàn Logistics Việt Nam năm 2021, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên khẳng định, logistics là ngành dịch vụ được ví như là những “mạch máu”của nền kinh tế quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc kết nối, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên khẳng định, logistics là ngành dịch vụ được ví như là những “mạch máu”của nền kinh tế.

“Phép thử” covid-19

Thị trường logistics tại Việt Nam được cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng để phát triển mạnh mẽ, nhất là sau khi đại dịch Covid-19 được kiểm soát và các hoạt động sản xuất, kinh doanh phục hồi, tăng trưởng trở lại.

Cũng theo Tư lệnh ngành Công Thương, bên cạnh những kết quả đạt được, ngành dịch vụ logistics của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế địa kinh tế của Việt Nam.

“Năng lực cạnh tranh của ngành còn thấp, chi phí logistics còn cao; sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu và doanh nghiệp dịch vụ logistics chưa chặt chẽ, kém hiệu quả. Một trong những nguyên nhân chủ quan chủ yếu của những hạn chế nêu trên đó là sự thiếu hụt nguồn nhân lực, chưa thực sự đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển trong tình hình mới. Sự khó khăn về nguồn nhân lực của ngành logistics sẽ càng tăng thêm khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là trong khu vực Cộng đồng Kinh tế ASEAN và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên nhận định.

Đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Công Thương nhắc tới tác động của dịch bệnh Covid-19 đã tác động lớn tới các doanh nghiệp ngành logistics, bộc lộ nhiều yếu điểm về số lượng, chất lượng và tính chuyên nghiệp.

Bên cạnh các nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, Bộ trưởng nhấn mạnh trong đó, nguyên nhân chủ quan, chủ yếu là các vấn đề về cơ sở hạ tầng chưa được nâng cấp đảm bảo tính kết nối, hầu hết các doanh nghiệp logsitics quy mô còn nhỏ, việc chuyển đổi số trong các khâu của logistics còn hạn chế từ đó làm giảm khả năng của doanh nghiệp,…

Diễn đàn Logistics Việt Nam 2021 được tổ chức tại Hà Nội ngày 14/12.

Đồng quan điểm, ông Đào Trọng Khoa, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệpdịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) nhận định, Covid-19 là thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp ngành dịch vụ logistics Việt Nam. Khảo sát của VLA cho thấy, khoảng 60% doanh nghiệp dịch vụ logistics bị thu hẹp sản xuất và giảm mạnh doanh thu…

Chuỗi cung ứng hàng hóa xuất nhập khẩu, lưu thông và vận chuyển hàng hóa trong nước bị ngưng trệ, nhất là thời gian giãn cách xã hội do không thống nhất quy định chống dịch giữa các địa phương làm cho chi phí logistics gia tăng. Sản xuất bị gián đoạn, thiếu lao dộng hoạt động dịch vụ. Sức khỏe, tinh thần và năng suất lao động của người lao động bị tác động nặng nề, Thương mại quốc tế bất định, khó lường. Chi phí logistics, nhất là vận tải đường biển với giá cước tăng vô kiềm tỏa. Ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp. Hạn chế việc tiếp cận Vaccine của lao động làm dịch vụ logistics.

Tuy nhiên theo Phó Chủ tịch thường trực VLA, khó khăn từ đại dịch cũng tạo ra những cơ hội cho doanh nghiệp trong ngành. Cụ thể, vận tải biển gặp nhiều khiến dịch vụ logistics vận tải hàng không và đường sắt được hưởng lợi từ nguồn hàng đường biển chuyển sang hàng không và đường sắt.

“Chính điều này tạo nên sự bùng nổ về thị trường vận tải hàng không từ đầu năm 2021 đến nay, dẫn đến sự tăng trưởng hàng quốc tế tại Việt Nam tới 20% so với năm 2020 và tăng 19% so với năm 2019. Một số hãng bay như Vietnam Airlines, Vietjetair, Bamboo Airways đã chủ động chuyển máy bay chở khách sang chở hàng hóa nhằm đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử xuyên biên giới bằng cách cho các công ty logistics thuê nguyên chuyến hoặc thuê kết hợp. Tổng công ty Đường săt Việt Nam đã bắt đầu khai thác các tuyến tàu liên vận, vận chuyển hàng hóa container qua Trung Quốc để đi đến Nga và một số nước EU”, ông Đào Trọng Khoa nêu ví dụ.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới. Đổi mới mô hình hoạt động với điểm sáng của hoạt động dịch vụ logistics bằng đường không.

“Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, một số doanh nghiệp Hội viên của Hiệp hội đã góp vốn thành lập Công ty CP Asean Cargo Gateway (ACG) cung cấp dịch vụ vận tải hàng hoá bằng đường không cố định hàng tuần cho các tuyến từ Việt Nam đi Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan…với giá cước ưu đãi hơn giá thị thị trường 10%-20%. Tiến tới hình thành các Hub cho hàng hóa trung chuyển đi Châu Âu. Hay việc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam VIMC liên doanh với Công ty Ấn Độ mở tuyến vận tải container thường xuyên Hải Phòng- Hồ Chí Minh kết nối Việt Nam – Malaysia và Ấn Độ, với thời gian rút ngắn 10 ngày so với tàu nứơc ngoài hiện nay”, Phó Chủ tịch VLA nhấn mạnh.

Năm đề xuất khôi phục chuỗi cung ứng

Để hỗ trợ doanh nghiệp logistics vượt khó khăn, nắm bắt cơ hội chuyển đổi, phục hồi chuỗi cung ứng, phát triển bền vững ngành logistics, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam kiến nghị, thứ nhất, tăng cường gói hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp và tiếp tục giảm thuế, chi phí cho các Doanh nghiệp logistics. Đề nghị không áp dụng các chính sách làm tăng chi phí logistics nói chung, như chi phí vận tải, giá nhiên liệu, giá BOT, phí và các lệ phí có liên quan khác…Đề nghị các Bộ ngành liên quan phối hợp cùng VLA và các Hiệp hội ngành hàng trao đổi thông tin nhằm giảm giá cước, giảm phụ phí hàng hải và chi phí logistics.

“Đề nghị các Bộ, ngành quản lý như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương và Bộ Tài Chính có sự chỉ đạo hiệu quả trong việc thực thi các văn bản pháp luật như Nghị định 146 về khai báo cước phí vận chuyển đường biển của các hãng tàu container nước ngoài và hạn chế việc tăng cước vận chuyển vô kiềm tỏa như hiện nay. Đồng thời kiến nghị Chính phủ có quyết sách phát triển vận chuyển vận tải biển mang thương hiệu Việt Nam. Đây là vấn đề cấp bách quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp XNK trong nước”, ông Đào Trọng Khoa nhấn mạnh.

Thứ hai, đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng logisitcs: Hệ thống hạ tầng logistics hiện nay chưa đồng bộ và hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu dịch vụ logistics, nhất là vận tải đa phương thức. Đề nghị Chính phủ tập trung phát triển hệ thống đường cao tốc gia như Quy hoạch phát triển đến năm 2030 đạt 5000km. Trước hết là tuyến Bắc Nam, các tuyến nối Đồng bằng sông Cửu Long, tuyến nối với các cảng biển nước sâu; phát triển cảng biển đầu mối và các trung tâm địch vụ logistics ở các vùng kinh tế trọng điểm.

Thứ ba, đề nghị sớm tiến hành điều chỉnh bổ sung Luật Thương mại 2005 để có các quy định mới phù hợp với tình hình hiện nay của hoạt động logistics. Cần đưa thêm các nội dung liên quan như thương mại điện tử, logistics điện tử, logistics xanh, các trung tâm dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics phát triển đòi hỏi phải hình thành các trung tâm dịch vụ logistics, nhưng các quy định về phát triển trung tâm logistics chưa theo kịp, thông tư cũ đã hết hiệu lực nhưng Bộ Công Thương chưa có quy định quản lý mới phủ hợp.

Thứ tư, VLA đề nghị Ủy Ban 1899 cần hoạt động tích cực và có hiệu quả trong việc quản lý và phát triển dịch vụ logistics theo chức năng của Ủy Ban. Hiện nay, quản lý nhà nước về vận tải và logistics thiếu một vai trò chỉ huy liên ngành. Điều này thể hiện rõ trong thời gian chống dịch Covid-19 vừa qua.

Thứ năm, kiến nghị Chính phủ có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy chuyển đổi số của các doanh nghiệp logistics, phát triển một số doanh nghiệp Logistics mạnh phát triển logistics tích hợp 4PL-5PL, logistics phục vụ thương mại điện tử nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp logistics trong thị trường nội đia và trên thị trường quốc tế.

Theo https://diendandoanhnghiep.vn/

Chi tiết

Long An trên bước đường hội nhập

Tận dụng vị thế là cửa ngõ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, khắc phục những khó khăn do đại dịch Covid-19, Long An đã đưa ra nhiều giải pháp, cơ chế, chính sách phù hợp, kịp thời cải thiện môi trường thu hút đầu tư, tạo tiền đề vững chắc tiếp tục phát triển và hội nhập, đón cơ hội mới trong những năm tới.

Tỉnh Long An sở hữu điều kiện, vị trí đặc biệt chiến lược trong các mối quan hệ, giao lưu kinh tế liên vùng, liên khu vực. Cũng giống như các địa phương khác của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hiện nay, hạ tầng giao thông, hạ tầng khu công nghiệp, cảng biển, kho lạnh.. của tỉnh Long An cũng đã được đầu tư đồng bộ, hoàn chỉnh.

Chủ tịch UBND tỉnh Long An Nguyễn Văn Út phát biểu tại Lễ ký kết Hợp đồng tư vấn lập quy hoạch tỉnh Long An, thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050

Ngoài ra, tỉnh Long An cũng có nguồn lao động dồi giàu ngay tại địa phương với trên một triệu lao động, phần lớn đã qua đào tạo. Nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi, Long An có thể dễ dàng thu hút lao động từ các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long hay đội ngũ kỹ sư, chuyên gia từ Thành phố Hồ Chí Minh đến làm việc.

Phát huy thế mạnh, tiềm năng sẵn có

Long An cũng là một địa phương mạnh về nông nghiệp. Sản lượng lúa hàng năm của tỉnh là hơn 2,8 triệu tấn. Ngoài lúa ra thì Long An còn có một số nông sản có thế mạnh như chuối, thanh long, bò thịt, rau sạch, chanh không hạt, tôm… Đặc biệt, trong đó có một số sản phẩm đã xuất khẩu sang những thị trường khó tính như Nhật Bản (chuối), Australia (thanh long)…

Trong thời gian qua, tỉnh Long An cũng rất tích cực trong công tác cải cách hành chính, tích cực đổi mới, hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động đầu tư, kinh doanh tại địa phương. Bằng chứng là trong vài năm trở lại đây, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Long An luôn nằm trong nhóm tốt của cả nước; riêng trong năm 2020, Long An đứng thứ ba cả nước, thuộc nhóm rất tốt.

 Cảng quốc tế Long An
Cảng quốc tế Long An, cửa ngõ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Các hoạt động xúc tiến đầu tư trong nước và nước ngoài đang được thực hiện với nhiều nhóm giải pháp như tạo quỹ đất sạch, thu hút nhà đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp… Song song đó, Long An cùng nhà đầu tư quy hoạch các khu tái định cư, khu dân cư tập trung tạo điều kiện cho cư dân vùng dự án phát triển công nghiệp có nơi an cư, lạc nghiệp.

Với những nỗ lực trên, thời gian qua, có rất nhiều nhà đầu tư đến tỉnh tìm hiểu cơ hội đầu tư. Trong 9 tháng đầu năm 2021, Long An dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI với tổng vốn đăng ký là 3,3 tỷ USD, chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư đăng ký vào nước ta kể từ đầu năm. Những con số này đã nói lên một cách khách quan về nhận định của nhà đầu tư, của doanh nghiệp đối với những tiềm năng, lợi thế và môi trường đầu tư – kinh doanh tại tỉnh Long An.

Tàu lớn ra vào Cảng quốc tế Long An
Tàu lớn ra vào Cảng quốc tế Long An.

Với những lợi thế đó, tỉnh Long An đang là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao của khu vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 là 9,61%/năm. Riêng trong năm 2021, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19, nhưng tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh vẫn ước đạt từ 4-5%. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo đúng định hướng của địa phương, trong đó công nghiệp – xây dựng chiếm 52,14/%, dịch vụ – thương mại là 32,54%, còn lại là nông nghiệp (15,32%) (số liệu năm 2020).

Trong làn sóng Covid-19 lần thứ tư vừa qua, dù là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh nhưng sau nhiều tháng chống dịch quyết liệt, đến nay, tình hình dịch bệnh ở tỉnh Long An đã cơ bản được kiểm soát. Tỉnh Long An là một trong những địa phương đầu tiên của khu vực mạnh dạn cho phép doanh nghiệp hoạt động trở lại cũng như đưa đời sống người dân sớm trở lại bình thường trong hoàn cảnh mới.

Bên cạnh độ tiêm phủ vaccine rộng, sau đợt dịch vừa qua, tỉnh Long An tự tin có đủ kinh nghiệm và nguồn lực cần thiết để chuẩn bị ứng phó với những tình huống diễn biến phức tạp của dịch bệnh trong thời gian tới, hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến đời sống của người dân và hoạt động của doanh nghiệp.

Khu công nghiệp Long Hậu - huyện Cần Giuộc - tỉnh Long An
Khu công nghiệp Long Hậu – huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Năng động hội nhập quốc tế

Trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, Long An là một địa phương rất năng động. Đến nay tỉnh Long An đã thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với tám địa phương quốc tế, gồm hai tỉnh Svay Rieng và Prey Veng của Campuchia, tỉnh Khammouane của Lào, tỉnh Trat của Thái Lan, tỉnh Chungcheongnam-do của Hàn Quốc, tỉnh Hyogo của Nhật Bản, thành phố Sacramento của Hoa Kỳ, thành phố Leipzig của CHLB Đức.

Cho đến trước khi đại dịch Covid 19 xuất hiện thì các hoạt động giao lưu, hợp tác giữa tỉnh Long An và các tỉnh bạn diễn ra rất sôi nổi, đạt được nhiều thành quả cụ thể.

Tuy nhiên trong hai năm gần đây do ảnh hưởng của dịch bệnh nên các hoạt động giao lưu, tiếp xúc trực tiếp gặp nhiều hạn chế, chủ yếu các bên trao đổi thông tin và gặp gỡ qua hình thức trực tuyến.

Hiện nay, tầm quan trong của hoạt động hợp tác quốc tế đang nhận được sự đồng thuận rất cao từ các cấp lãnh đạo đến địa phương tại tỉnh Long An. Tỉnh đã lựa chọn và xác định hợp tác quốc tế là một trong những cách thức quan trong nhất để phát triển kinh tế – xã hội của địa phương trong thời gian tới đây.

Với sự hỗ trợ của Bộ Ngoại giao và đặc biệt là Cục Ngoại vụ thông qua các diễn đàn, các buổi đối thoại, gặp gỡ… được tổ chức thời gian qua, địa phương đã có nhiều kênh đối thoại, tiếp xúc với các cơ quan đại diện ngoại giao, các tổ chức quốc tế trong và ngoài nước. Đây cũng là những hoạt động có vai trò tích cực, góp phần đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế của địa phương, “giữ lửa” cho công tác đối ngoại, ngay cả trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19.

Một số định hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong phát triển kinh tế-xã hội

Tập trung nâng cao hiệu quả công tác lập, quản lý và triển khai thực hiện các quy hoạch theo Luật Quy hoạch, trọng tâm là quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, chú trọng tổ chức lại không gian phát triển một cách hợp lý, phát huy tốt tiềm năng, lợi thế để đẩy mạnh phát triển của các vùng đô thị, công nghiệp, nông nghiệp.

Đẩy mạnh phát triển các ngành, lĩnh vực, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư của nền kinh tế; tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát triển các thành phần kinh tế; xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ và phát triển đô thị, phát triển liên kết vùng.

Phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm gắn kết hài hòa giữa phát triển kinh tế với xã hội; quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ môi trường sống; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; đẩy mạnh công tác xây dựng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trận tự an toàn xã hội.

Theo Baoquocte.vn

Chi tiết

Thúc đẩy xuất khẩu qua Cảng quốc tế Long An

Cảng quốc tế Long An nằm trong nhóm cảng biển loại 1 cùng với 14 cảng khác trên cả nước. Để phát huy hết công năng của cảng đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của tỉnh Long An và vùng ĐBSCL rút ngắn thời gian, giảm chi phí vận chuyển hàng hóa, tăng tính cạnh tranh, ngành chức năng Long An đang hoàn thiện hạ tầng nhằm phục vụ tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa.

Cảng quốc tế Long An hỗ trợ doanh nghiệp nhiều dịch vụ vận chuyển, xuất nhập khẩu

Cảng quốc tế Long An hiện đã bốc xếp nhiều loại hàng hóa xuất nhập khẩu như phân bón, thức ăn gia súc, sắt thép, hàng nông sản… Đặc biệt, trong thời gian qua, đã hình thành tuyến logistics đường thủy vận chuyển hàng hóa từ cụm cảng Cái Mép – Thị Vải về, nhằm rút ngắn thời gian giao nhận hàng cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, từ khi cảng đi vào hoạt động đến nay, rất ít doanh nghiệp chuyển hàng về đây để xuất nhập khẩu. Trong khi đó, Long An có hơn 1.500 doanh nghiệp trong 16 khu công nghiệp và 32 cụm công nghiệp có nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa và nguyên vật liệu, nhưng đa phần doanh nghiệp giao dịch tại Tân cảng Cát Lái và cụm cảng Cái Mép – Thị Vải. Ông Lê Minh Phúc, Tổng Giám đốc Cảng quốc tế Long An, cho hay, cảng đã hoàn thiện chứng nhận ISO 9001:2015, chuyên nghiệp hóa về quản lý và cung cấp những giải pháp logistics trọn gói cho doanh nghiệp.

Cảng quốc tế Long An có diện tích 147ha, được đầu tư 3 giai đoạn với tổng số vốn gần 10.000 tỷ đồng, gồm 7 cầu cảng có khả năng tiếp nhận tàu tải trọng lên đến 70.000 tấn; có bến sà lan, hệ thống nhà kho, kho ngoại quan, hệ thống bãi container và các công trình phụ trợ khác. Đặc biệt, hệ thống kho phục vụ lưu trữ hàng lên đến hơn 400.000m², có thể đáp ứng nhu cầu vận chuyển, lưu kho hàng hóa nông thủy sản, phân bón, sắt thép của khu vực ĐBSCL.

Trước thực trạng trên, Sở Công thương tỉnh Long An đang làm cầu nối để doanh nghiệp kết nối với Cảng quốc tế Long An nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí vận chuyển, tăng tính cạnh tranh; đáp ứng kịp thời nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi tham gia xuất nhập khẩu tại cảng không bị ách tắc giao thông, tỉnh Long An đã đầu tư hạ tầng từ các huyện kinh tế trọng điểm của tỉnh về cảng. Ông Nguyễn Tuấn Thanh, Giám đốc Sở Công thương Long An, thông tin, tỉnh đang tiến hành các bước thành lập Khu kinh tế biển kết nối với cảng; đồng thời có kế hoạch phối hợp với TPHCM nạo vét đường sông để tiếp nhận tàu 70.000 DWT…

Mới đây, khi đến khảo sát tại Cảng quốc tế Long An, đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, nhận định, Cảng quốc tế Long An không chỉ phục vụ cho tỉnh, mà phải mở rộng phục vụ cho cả vùng ĐBSCL, kết hợp với các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương… Do đó, tỉnh Long An cần phát triển giao thông đường thủy để phục vụ vận chuyển hàng hóa thuận lợi nhằm góp phần tháo gỡ điểm nghẽn giao thông đường bộ, tạo điều kiện cho vùng ĐBSCL phát triển.

Theo sggp.org.vn

Chi tiết

Thành công với dự án chuyển đổi số 5 triệu USD, Đồng Tâm Group được Long An tặng bằng khen

TTO – Tại lễ công bố chính thức vận hành hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp thế hệ mới SAP S/4HANA ngày 15-12, Đồng Tâm Group đã được UBND tỉnh Long An trao tặng bằng khen với thành tích ‘đơn vị tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số’.

Đồng Tâm Group đón nhận bằng khen “tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số” của UBND tỉnh Long An – Ảnh: SƠN LÂM

SAP S/4HANA được xem là một trong những giải pháp công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp thế hệ mới số 1 hiện nay, giúp hỗ trợ thúc đẩy quá trình chuyển đổi số để doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp thông minh, phát triển bền vững qua việc áp dụng công nghệ tiên tiến, quy trình kinh doanh chuẩn hóa, tinh gọn và tích hợp…

Từ tháng 4-2021, Đồng Tâm Group đã khởi động dự án với sự liên kết những tập đoàn hàng đầu thế giới SAP Vietnam (đơn vị cung cấp giải pháp), Deloitte Consulting Vietnam (đơn vị tư vấn triển khai giải pháp), AWS Vietnam (đơn vị cung cấp dịch vụ hạ tầng điện toán đám mây) và EY Vietnam (đơn vị tư vấn tiền triển khai việc tổ chức, quy trình thực hiện, đánh giá KPIs).

Trong vòng 8 tháng, với sự đầu tư gần 5 triệu USD, Đồng Tâm Group đã chính thức cùng đưa dự án hoạt động ở cả 9 công ty thành viên, 12 phân hệ quản lý và 140 quy trình kinh doanh được thiết kế và triển khai với 8 ngành nghề kinh doanh, hợp nhất báo cáo tài chính 15 công ty thuộc tập đoàn.

Việc đồng bộ triển khai thành công trên cơ sở công nghệ hiện đại bằng hạ tầng trên điện toán đám mây sử dụng trên nhiều thiết bị, đúng quy chuẩn của kế toán Việt Nam và báo cáo tài chính quốc tế với hơn 100 chỉ tiêu quản trị được thiết lập, đo lường hiệu quả mà Đồng Tâm Group thực hiện trong bối cảnh dịch bệnh vừa qua được xem là một “kỳ tích” trong chuyển đổi số.

“Tại Việt Nam, hiện mới có khoảng vài trăm doanh nghiệp tầm cỡ có đủ nguồn lực để lựa chọn SAP S/4HANA làm công cụ để quản trị và điều hành. Quá trình triển khai cũng rất khó khăn, vất vả. Không ít doanh nghiệp đã không thể đi đến kết quả cuối cùng trong quá trình tích hợp và vận hành.

Do đó có thể nói, tốc độ hoàn thành dự án quy mô cũng như khối lượng công việc khá lớn chỉ trong thời gian 8 tháng của Đồng Tâm Group là sự nỗ lực hết mình của toàn thể cán bộ, công nhân viên” – ông Nguyễn Minh Lâm, phó chủ tịch UBND tỉnh Long An, phát biểu tại buổi lễ.

Theo https://tuoitre.vn/
Chi tiết

Long An vững vàng thu hút đầu tư trong đại dịch Covid-19

Năm 2021, trong bối cảnh bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, tỉnh Long An vẫn thu hút được trên 3.400 triệu USD từ nguồn vốn FDI, chiếm 1/3 của cả nước.

Dẫn đầu cả nước trong thu hút nguồn vốn FDI

Cụ thể, tỉnh Long An đã cấp mới giấy chứng nhận đầu tư 42 dự án FDI (đầu tư trực tiếp từ nước ngoài) với số vốn đăng ký 3.272,5 triệu USD; 63 dự án tăng vốn với tổng số vốn tăng 128,5 triệu USD. Long An trở thành địa phương dẫn đầu cả nước trong thu hút nguồn vốn FDI.

Long An vững vàng thu hút đầu tư trong đại dịch Covid-19 - ảnh 1

Nhiều ghi nhớ và hợp đồng hợp tác giữa UBND tỉnh Long An và các tập đoàn tại buổi tọa đàm định hướng phát triển vùng kinh tế công nghệ cao năm 2021

Đến nay, Long An vẫn đang trên đà thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư ở một số lĩnh vực như: hợp tác phát triển các dự án sản xuất công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ, cơ khí chế tạo máy, sản xuất linh kiện điện tử, công nghiệp chế biến; các dự án công nghiệp xanh, các dự án năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; phát triển đô thị – bất động sản gần TP.HCM; xây dựng và hoàn thiện các công trình cấp, thoát nước; logistics, dịch vụ chất lượng cao gắn với cảng quốc tế; hợp tác đào tạo lao động kỹ thuật cao, hợp tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài…

Bên cạnh đó, theo báo cáo kinh tế – xã hội của UBND tỉnh Long An, đến hết quý 3/2021, địa phương đã thu hút mạnh mẽ các nguồn đầu tư trong nước, nhiều chỉ tiêu kinh tế – xã hội có mức tăng trưởng nhẹ.

Thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch Covid-19 vừa phục hồi, phát triển kinh tế, từ cuối tháng 8.2021, UBND tỉnh Long An đã ban hành các kế hoạch về phòng, chống dịch và phục hồi sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, liên tục có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình kiểm soát dịch và điều kiện thực tế để tạo điều kiện cho DN dần hoạt động trở lại và đảm bảo tốt các điều kiện phòng chống dịch. Đến nay, ước có khoảng 90% DN trên địa bàn tỉnh đã hoạt động trở lại với trên 80% lao động. Các hoạt động văn hóa, xã hội, đời sống của người dân đều đã ổn định trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết 128 của Chính phủ về “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”.

Vì sao Long An được các nhà đầu tư đặc biệt chú ý?

Đánh giá về kết quả thực hiện mục tiêu kép của tỉnh Long An, giới quan sát đã dùng 2 chữ “kỳ tích”. Bên cạnh đó, các chuyên gia kinh tế cũng chỉ ra những lợi thế quan trọng để Long An phát huy mạnh mẽ trong thu hút đầu tư, dù dịch Covid-19 ở tỉnh rất nghiêm trọng.

Theo đó, Long An là tỉnh có vị trí rất đặc biệt, vì là tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, đồng thời thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; là cửa ngõ nối liền Đông Nam bộ với Tây Nam bộ, tiếp giáp với TP.HCM – trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam. Đồng thời là cửa ngõ giao thương ra quốc tế với khoảng 133 km đường biên giới với Campuchia… Song song đó, Long An còn có tiềm năng lớn về vận tải đường biển, đường thủy nội địa, hàng hải quốc tế với cửa Soài Rạp hiện nay đã được đầu tư và đi vào hoạt động. Cảng Quốc tế Long An có thể tiếp nhận tàu 50.000 tấn, giai đoạn 2 có thể tiếp nhận tàu đến 70.000 tấn.

Toàn tỉnh có 35 khu công nghiệp (KCN) đã được Thủ tướng Chính phủ bổ sung vào quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam và 62 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích quy hoạch khoảng 15.000 ha. Hiện có 22 KCN đủ điều kiện tiếp nhận đầu tư có tổng diện tích 5.067,67 ha, trong đó còn khoảng 500 ha đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê; 22 CCN đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy đạt 77,6%; diện tích đất sẵn sàng tiếp nhận đầu tư khoảng 251 ha.

Ngoài lợi thế lớn về vị trí địa lý và hạ tầng giao thông phát triển, Long An có nhiều cơ hội thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước, phát triển đa ngành, đa lĩnh vực như: công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch… đồng thời cũng là vùng nguyên liệu dồi dào cho ngành công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản.

Với những thành tựu quan trọng đó, Long An đã có sự phát triển bứt phá, vươn lên mạnh mẽ, trở thành một trong những địa phương năng động, tích cực trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vùng ĐBSCL và của cả nước.

Theo https://thanhnien.vn/

Chi tiết

Sắp khởi công hàng loạt tuyến đường kết nối TP.HCM – Long An

6/23 dự án giao thông trọng điểm sắp được khởi công sẽ góp phần kết nối, tạo sự đồng bộ giữa Long An và TP.HCM.

Sở GTVT tỉnh Long An cho biết từ nay tới đầu năm 2022, tỉnh sẽ khởi công sáu dự án giao thông kết nối với TP.HCM. Đây là 6/23 dự án trọng điểm góp phần tạo sự đồng bộ với TP.HCM và thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh Long An và các tỉnh lân cận.

Khởi công hàng loạt dự án

Theo đó, trong tháng 12, Sở GTVT tỉnh Long An sẽ tiến hành khởi công tuyến đường tỉnh (ĐT) 823D có chiều dài 14,2 km, đây là trục mở mới tây bắc kết nối Long An – TP.HCM. Dự án có điểm đầu là ranh TP.HCM – Long An (xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa), điểm cuối là nút giao QL.N2 (vòng xoay Hậu Nghĩa) với tổng mức đầu tư hơn 1.490 tỉ đồng. Tuyến đường mới này sẽ góp phần quan trọng trong việc kết nối vùng giữa đường vành đai 3, đường vành đai 4 quy hoạch của TP.HCM và kết nối vào đường Hồ Chí Minh, đoạn Chơn Thành – Đức Hòa đang được Bộ GTVT đầu tư.

Bên cạnh đó, đầu năm 2022, Long An cũng tiến hành khởi công hàng loạt dự án bao gồm tuyến ĐT826E (đoạn từ giao 826C đến cầu Cần Giuộc) dài 1,6 km và tuyến đường kết nối dẫn vào cầu Rạch Dơi đến ĐT826E dài 2 km. Cả hai đoạn trên có tổng mức đầu tư hơn 550 tỉ đồng. Theo Sở GTVT tỉnh, đây là tuyến đường mới hoàn toàn, tuyến đường sẽ kết nối với tuyến Tân Lập – Long Hậu (kết nối từ đường tỉnh cảng Long An với đường vành đai 4, đường vành đai 3 và cảng Hiệp Phước (Nhà Bè).

Các dự án kết nối Long An – TP.HCM sắp khởi công. Đồ họa: HỒ TRANG

Bên cạnh đó, Long An cũng sẽ khởi công một tuyến đường mới hoàn toàn nằm trong khu quy hoạch bắc Bến Lức là đường Lương Hòa – Bình Chánh (giáp ranh Bến Lức – TP.HCM) dài 6,2 km. Dự án có điểm đầu là bờ sông Vàm Cỏ Đông, điểm cuối giáp ranh TP.HCM, có tổng mức đầu tư hơn 2.270 tỉ đồng. Tuyến đường sau khi hoàn thành sẽ phục vụ phát triển vận chuyển hàng hóa, các khu thương mại, dịch vụ trong quy hoạch bắc Bến Lức. Đồng thời kết nối với đường Mai Bá Hương (huyện Bình Chánh). Hiện dự án đang làm thủ tục, các bước đầu tư.

Tiếp đến là dự án ĐT827E có điểm đầu là vòng xoay ngã năm Cần Giuộc (huyện Cần Giuộc) và điểm cuối là Vàm Cỏ Đông, chiều dài gần 16 km. Dự án có tổng mức đầu tư 2.153 tỉ đồng. Dự án này sẽ kết nối đường tây nam TP.HCM từ đường Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh đến Cần Giuộc. Dự án ĐT827E được hoàn thiện góp phần phát triển công nghiệp tỉnh, kết nối Trung Lương (Tiền Giang), chia sẻ áp lực giao thông cho quốc lộ 1 và quốc lộ 50…

Sẵn sàng kết nối

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Nguyễn Hoài Trung, Phó Giám đốc Sở GTVT tỉnh Long An, đánh giá các tuyến đường hiện hữu, giáp ranh với TP.HCM hiện nay đều có quy mô cấp thấp, mặt cắt ngang hẹp, thiếu đồng bộ giữa hai địa phương. Do vậy, việc nâng cấp, mở rộng và xây mới các tuyến đường này là cấp thiết.

Theo ông Trung, việc triển khai các dự án cần có sự thống nhất giữa các địa phương. Trong đó, cả hai bên cần thống nhất về thời điểm, lộ trình kết nối, vị trí, phạm vi. Đến nay, tỉnh đã thống nhất làm sáu dự án kết nối với TP.HCM. Ngoài ra, từ nay tới năm 2025, Long An và TP.HCM quyết tâm thực hiện 23 dự án kết nối với hai địa phương. “Long An quyết tâm huy động mọi nguồn lực, nguồn vốn để sớm hoàn thiện các dự án này, nhanh chóng kết nối với TP.HCM. Hiện nay, các đơn vị đang chuẩn bị thủ tục, sẵn sàng giải phóng mặt bằng để thi công vào đầu tháng 12 này” – ông Trung nhấn mạnh.

Ông Trung đánh giá các trục kết nối với TP.HCM khi hoàn thành sẽ kết nối với các công trình giao thông trọng điểm của tỉnh tạo thành mạng lưới giao thông đồng bộ, hoàn chỉnh. Từ đó, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội mạnh mẽ cho tỉnh Long An nói riêng và khu vực nói chung.

Đồng thời, các trục kết nối giữa hai địa phương khi hoàn thành sẽ giảm áp lực giao thông từ các huyện giáp ranh Long An đến TP.HCM, giải quyết hiệu quả tình trạng ùn ứ, tắc nghẽn giao thông trên các trục giao thông chính hướng tâm vào trung tâm TP.HCM. “Đặc biệt, các dự án giao thông kết nối giữa Long An và TP.HCM đã khẳng định tính đột phá trong việc thu hút đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội giữa hai địa phương một cách mạnh mẽ trong nhiệm kỳ 2021-2025” – ông Trung nói.

23 vị trí cần kết nối

Theo Sở GTVT TP.HCM, việc ưu tiên đầu tư các dự án kết nối với Long An là rất cần thiết vì hiện nay các công trình kết nối giữa TP.HCM với Long An chưa nhiều. Do đó, giai đoạn 2021-2025, TP.HCM đã ưu tiên đầu tư năm dự án kết nối liên vùng với tổng số vốn gần 44.000 tỉ đồng. Trong đó có bốn dự án kết nối với Long An và một dự án kết nối sân bay Long Thành (Đồng Nai).

Trước đó, Sở GTVT TP và Long An đã có nhiều buổi làm việc, rà soát và đưa ra 23 vị trí kết nối đặc biệt quan trọng cần được xem xét ưu tiên đầu tư giữa hai địa phương. Trong đó có một số dự án như đường Nguyễn Văn Bứa (huyện Hóc Môn) kết nối với ĐT824 (huyện Đức Hòa), dự án quốc lộ 50 qua Bình Chánh – Cần Giuộc, dự án đường Long Hậu (huyện Nhà Bè) – ĐT826E (huyện Cần Giuộc), đường Lê Văn Lương (huyện Nhà Bè) – ĐT826C (huyện Cần Giuộc)… 

Theo PLO

Chi tiết
truyn-thng-long-an-international-port